- Tranh chấp gì? án hình sự — "PHÙNG VĂN T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phùng Văn T phạm t i “ ừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 186/2024/HS-ST Ngày 29-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Văn Bé;
Ông Huỳnh V nh c.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng im An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trư ng Hoài Bảo - iểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự s thẩm thụ lý số: 114/2024/T ST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Phùng Văn T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1988 tại t nh Tây Ninh; n i thường trú: Tổ B, ấp X, xã H, thị xã T, t nh Tây Ninh; nghề nghiệp: hông; trình đ học vấn: 7/12; dân t c: inh; giới tính: Nam; tôn giáo: hông; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn T1 và bà Nguyễn Thị C; bị cáo chưa c v , con; tiền án: hông; tiền sự: Ngày 11/4/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, t nh Tây Ninh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào c sở cai nghiện b t bu c với thời gian 24 tháng, chấp hành xong ngày 22/3/2019. Ngày 19/3/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, t nh Tây Ninh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào c sở cai nghiện b t bu c với thời gian 24 tháng, chấp hành xong ngày 26/6/2021. Ngày 17/5/2022 bị Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, t nh Tây Ninh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào c sở cai nghiện b t bu c với thời gian 24 tháng; nhân thân: Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, t nh Tây Ninh xử phạt 01 năm 6 tháng tù về t i ạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo bản án số 25/2015/HS-ST ngày 24/3/2015, chấp hành xong án phạt tù ngày 05/5/2016; bị b t tạm giam từ ngày 20/02/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Huỳnh Đông D, sinh ngày 25/6/2005 (v ng mặt).
Người đại diện: Ông Huỳnh Đông H, sinh năm 1973 (v ng mặt).
Bà ê Diễm H1, sinh năm 1976 (v ng mặt).
Địa ch : Số E T nh l 2, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Như Q, sinh năm 1975 (v ng mặt).
Thường trú: Đ i 6, thôn N, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà N i.
Ch ở: 1275 T nh l 8, ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án đư c t m t t như sau:
Vào khoảng 08 giờ 10 phút ngày 15/8/2023, Phùng Văn T đến nhà Huỳnh Đông D ch i do trước đây T c quen biết D. T thấy D c sử dụng điện thoại di đ ng hiệu Iphone 11 màu đen nên nảy sinh ý định chiếm đoạt đem bán lấy tiền tiêu xài. T giả vờ nhờ D điều khiển xe đạp điện chở T đi công việc, D đồng ý. D điều khiển xe chở T ra khỏi nhà, sau đ T n i để T điều khiển xe chở D cho nhanh. T chở D theo T nh l 7 hướng về xã A, huyện C. Trên đường đi T giả vờ lấy lý do hỏi mư n điện thoại của D để gọi cho bạn và cầm điện thoại trên tay. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả hai đi đến đường N thu c ấp B, xã A, huyện C thì xe đạp điện bị thủng lốp nên dừng lại. T đưa xe đạp điện cho D đẩy đi trước tìm ch vá, T đi b theo sau. T hỏi m t khẩu điện thoại để gọi cho bạn nhờ giúp đỡ nhưng thực tế T không gọi cho ai. D đọc cho T m t khẩu số “2005”. Sau đ , T chiếm đoạt điện thoại này và nhờ người đi đường (chưa rõ lai lịch) chở đến ngã tư T. T đi đến tiệm “Châu cầm đồ” địa ch số A T nh l 8, ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cầm điện thoại chiếm đoạt của D cho Phạm Như Q đư c 1.000.000 đồng. T mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết. Cùng ngày, Huỳnh Đông H là cha ru t của D đến công an xã A, huyện C trình báo. ực lư ng công an đã tiến hành mời T về làm việc, T khai nh n hành vi phạm t i như trên.
Tại ết lu n định giá tài sản số 225/KL-HĐĐGTS ngày 12/10/2023 của H i đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện C kết lu n: 01 (M t) điện thoại di đ ng hiệu Iphone 11 màu đen, dung lư ng th nhớ 64GB, số Imei: 350537099250638, số thuê bao: 0389497113 c giá 7.000.000 đồng.
V t chứng thu giữ: 01 đ a DVD-R bên trong c 03 đoạn video do Phạm Như Q cung cấp, 01 USB bên trong c chứa 03 đoạn video do Huỳnh Đông H cung cấp, 01 (m t) đôi dép màu đen, 01 (m t) n n bảo hiểm màu tr ng hiệu “canary helmet” hai bên c chữ “canary helmet”, 01 (m t) khẩu trang màu xám, 01 (m t) áo khoác màu đen, 01 (m t) n n kết màu đen.
01 (M t) điện thoại di đ ng hiệu Iphone 11 màu đen, dung lư ng th nhớ 64GB, số Imei: 350537099250638 C quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý v t, tài liệu bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu.
Tại Cáo trạng số 116/CT-VKS-CC ngày 22 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Phùng Văn T về t i “ ừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo hoản 1 Điều 174 của B lu t Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phùng Văn T thừa nh n hành vi phạm t i như trên. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về t i “ ừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo hoản 1 Điều 174 của B lu t Hình sự là đúng, không oan sai gì cho bị cáo.
Bị hại ông Huỳnh Đông D v ng mặt. ời khai của D thể hiện: Vào lúc 08 giờ ngày 15/8/2023 D gặp bị cáo T ở quán nước gần nhà tại ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. T hỏi mư n xe đạp điện và kêu D đi công chuyện cùng T thì D đồng ý. T xin T chạy xe cho nhanh và D ngồi sau, T chạy qua nhiều tuyến đường Duy không rõ tên đường. Trên đường đi T hỏi mư n điện thoại của D để điện thoại cho người khác thì D đồng ý. úc này, xe đạp điện của D bị thủng lốp sau thì T đưa D đến m t công trình xây dựng khu tái định cư ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, T hỏi m t khẩu điện thoại của D và D c n i là “2005”. Tại thời điểm này T kêu D đem xe đi sửa, T cầm điện thoại cách xa D khoảng 50 mét để n i chuyện điện thoại. M t lúc sau, D thấy m t chiếc xe chạy tới T dùng tay vẫy thì xe dừng lại, T lên xe mô tô đư c 01 người chở đi thẳng. Sau đ , D đem xe đạp đi sửa, D xin tiền người sửa xe để đ n xe buýt về nhà. Ông đã nh n lại đư c tài sản, đồng thời ông c ng xin giảm nh trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Ông Phạm Như Q v ng mặt. ời khai của ông Q thể hiện: Ngày 15/8/2023, ông c nh n cầm tài sản là 01 điện thoại của Phùng Văn T với số tiền 1.000.000 đồng. Ông không biết điện thoại trên do T phạm t i mà c . Ông đã tự nguyện giao n p điện thoại và không yêu cầu Phùng Văn T trả lại cho ông số tiền 1.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức đ hành vi phạm t i, những tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị H i đồng xét xử:
Áp dụng hoản 1 Điều 174, Điểm s hoản 1 Điều 51, hoản 2 Điều 51 của B lu t Hình sự xử phạt bị cáo Phùng Văn T mức án từ 01 (m t) năm 6 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.
Về xử lý v t chứng: Áp dụng hoản 2 Điều 106 của B lu t Tố tụng hình sự đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (m t) đôi dép màu đen, 01 (m t) n n bảo hiểm màu tr ng hiệu “canary helmet” hai bên c chữ “canary helmet”, 01 (m t) khẩu trang màu xám, 01 (m t) áo khoác màu đen, 01 (m t) n n kết màu đen.
01 đ a DVD-R bên trong c 03 đoạn video do Phạm Như Q cung cấp, 01 USB bên trong c chứa 03 đoạn video do Huỳnh Đông H cung cấp cần tiếp tục lưu giữ trong hồ s vụ án phục vụ cho việc tra cứu.
Ghi nh n sự tự nguyện bị cáo T n p ngân sách nhà nước số tiền thu l i bất chính 1.000.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không c việc làm ổn định đề nghị H i đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại hoản 5 Điều 174 của B lu t Hình sự.
Bị cáo Phùng Văn T không tranh lu n, không tự bào chữa.
Bị cáo Phùng Văn T n i lời sau cùng: Bị cáo mong H i đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nh n định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của c quan c thẩm quyền tiến hành tố tụng, người c thẩm quyền tiến hành tố tụng:
C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, iểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B lu t Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của c quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của c quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.
Về t i danh; điều lu t áp dụng; tính chất, mức đ của hành vi phạm t i:
Bị cáo Phùng Văn T c thủ đoạn gian dối chiếm đoạt 01 (M t) điện thoại di đ ng hiệu Iphone 11 màu đen, dung lư ng th nhớ 64GB, số I: 350537099250638 trị giá 7.000.000 đồng của ông Huỳnh Đông D. Bằng hành vi trên bị cáo Phùng Văn T đã phạm vào t i “ ừa đảo chiếm đoạt tài sản”, t i phạm và hình phạt đư c quy định tại hoản 1 Điều 174 của B lu t Hình sự. Do đ , Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo về t i danh nêu trên là c căn cứ, đúng người, đúng t i, đúng pháp lu t.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i. Vì mục đích c tiền tiêu xài mà bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối của mình nhằm chiếm đoạt tài sản. Bị cáo giả vờ nhờ D chở đi công việc để ra khỏi nhà, giả vờ lấy lý do hỏi mư n điện thoại để gọi cho bạn và cầm điện thoại trên tay, hỏi m t khẩu điện thoại để gọi cho bạn nhờ giúp đỡ khi xe bị thủng lốp làm Duy tưởng th t giao. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại. hi thực hiện hành vi phạm t i bị cáo nh n thức rõ việc bị cáo chiếm đoạt tài sản là sai trái, phạm pháp nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành đ ng phạm t i nhằm thỏa mãn đ ng c tư l i của cá nhân bị cáo. Do v y, H i đồng xét xử thấy cần phải xử lý bị cáo bằng m t hình phạt nghiêm kh c và cách ly ra khỏi xã h i m t thời gian là cần thiết.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
hông c .
Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự:
Tại C quan điều tra c ng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại c ng xin giảm nh trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, xét tính chất và hành vi phạm t i của bị cáo, H i đồng xét xử áp dụng Điểm s hoản 1 Điều 51, hoản 2 Điều 51 của B lu t Hình sự để xem xét giảm nh cho bị cáo phần nào về hình phạt là c căn cứ.
Về hình phạt bổ sung:
H i đồng xét xử xét không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 32 và hoản 5 Điều 174 của B lu t Hình sự.
Về v t chứng vụ án:
01 (m t) đôi dép màu đen, 01 (m t) n n bảo hiểm màu tr ng hiệu “canary helmet” hai bên c chữ “canary helmet”, 01 (m t) khẩu trang màu xám, 01 (m t) áo khoác màu đen, 01 (m t) n n kết màu đen là tài sản của bị cáo, bị cáo không c yêu cầu nh n lại, không c giá trị sử dụng, H i đồng xét xử xét cần tịch thu tiêu hủy.
01 đ a DVD-R bên trong c 03 đoạn video do Phạm Như Q cung cấp, 01 USB bên trong c chứa 03 đoạn video do Huỳnh Đông H cung cấp. H i đồng xét xử xét cần tiếp tục lưu giữ trong hồ s vụ án, phục vụ cho việc tra cứu.
Số tiền 1.000.000 đồng là tiền bị cáo c đư c từ việc cầm điện thoại cho ông Q, c quan cảnh sát điều tra công an huyện C đã thu hồi điện thoại và trả lại cho bị hại. Ông Q không yêu cầu bị cáo trả lại cho ông số tiền 1.000.000 đồng. Ghi nh n sự tự nguyện của bị cáo T n p ngân sách nhà nước số tiền thu l i bất chính 1.000.000 đồng.
Về ngh a vụ dân sự:
Ông Huỳnh Đông D là người bị thiệt hại về tài sản do hành vi phạm t i của bị cáo gây ra. Tại phiên tòa ông D v ng mặt nhưng hồ s thể hiện ông đã nh n lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên H i đồng xét xử không xét.
Ông Phạm Như Q là người cầm điện thoại. Tại phiên tòa ông Q v ng mặt nhưng hồ s thể hiện ông không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên H i đồng xét xử không xét.
Về các vấn đề khác:
Ông Phạm Như Q không biết điện thoại do T phạm t i mà c . C quan cảnh sát điều tra không xử lý. H i đồng xét xử xét xử lý trên là phù h p nên không xét.
Về ngh a vụ chịu án phí:
Bu c bị cáo Phùng Văn T phải chịu án phí hình sự s thẩm theo quy định của B lu t Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phùng Văn T phạm t i “ ừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào hoản 1 Điều 174, Điều 38, Điểm s hoản 1 Điều 51, hoản 2 Điều 51 của B lu t Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phùng Văn T 01 (m t) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 02 năm 2024.
Căn cứ vào hoản 2 Điều 106 của B lu t Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (m t) đôi dép màu đen, 01 (m t) n n bảo hiểm màu tr ng hiệu “canary helmet” hai bên c chữ “canary helmet”, 01 (m t) khẩu trang màu xám, 01 (m t) áo khoác màu đen, 01 (m t) n n kết màu đen.
Ghi nh n sự tự nguyện bị cáo Phùng Văn T n p ngân sách nhà nước số tiền thu l i bất chính 1.000.000đ (m t triệu đồng).
Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của B lu t Tố tụng hình sự, u t Phí và lệ phí năm 2015, Đ a hoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i.
Án phí hình sự s thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) bu c bị cáo Phùng Văn T phải chịu.
Bị cáo c mặt tại phiên tòa c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người c quyền l i, ngh a vụ liên quan đến vụ án v ng mặt tại phiên tòa c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nh n đư c bản án hoặc kể từ ngày bản án đư c niêm yết.
Trường h p bản án đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 u t Thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự c quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 u t Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 u t Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - V SND Thành phố Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; - V SND huyện Củ Chi; - Công an huyện Củ Chi; - Chi cục THADS huyện Củ Chi; - Bị cáo; - Đư ng sự; - ưu: Vp, hồ s . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thủy |