- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn C phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 186/2023/HSST Ngày: 11/08/2023 |
QUẬN HOÀNG MAI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị H Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị M Ông Nguyễn Văn V - Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thanh H - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị T - Kiểm sát viên. Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 192/2023/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2023/HSST- QĐ ngày 27 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo: Phạm Văn C, sinh năm 1989, tại Hà Nội; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 4, ngõ 304, Lê Duẩn, phường T, quận Đ, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị H; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: 02 tiền án: Bản án số 471/2005/HSST ngày 24/10/2005 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội xử phạt Phạm Văn Chiến 24 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn thi hành án kể từ ngày bắt; Bản án số 221/2005/HSST ngày 16/12/2005 của Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội xử phạt Phạm Văn C 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”, tổng hợp với Bản án số 471 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, buộc Phạm Văn C phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2005, được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 18/4/2005 đến ngày 23/4/2005 (đã xóa án tích). Bị bắt khẩn cấp ngày 05/05/2023; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa. - Bị hại: + Anh Vũ Minh Đ, sinh năm 2002. HKTT: Xóm 2, xã Ân Hòa, huyện Kim S, tỉnh N.
Nơi ở hiện tại: Ngách 20, ngõ Trại Cá, phường T, quận H, Hà Nội; Có mặt. + Anh Nguyễn Gia Ph, sinh năm 2003. HKTT: Số 89, tổ 10 Thanh Trường, thành phố Đ, tỉnh Điện B. Trụ tại: Số 54, ngõ 254, đường Tam T, phường Y, quận H, Hà Nội; Vắng mặt. + Anh Ngô Xuân Tr, sinh năm 1993. HKTT và nơi ở hiện nay: Thôn Trung Thành, xã N, huyện N, tỉnh T; Vắng mặt. + Anh Đỗ Đức C, sinh năm 2002. HKTT và nơi ở hiện nay: Thôn Đa Hội, xã H, huyện H, tỉnh B; Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/05/2023, anh Vũ Minh Đ phát hiện thấy Phạm Văn C là đối tượng đi xe ôm sau đó mượn điện thoại của anh Đ để gọi rồi chiếm đoạt đang đứng tại khu vực cầu Nguyễn An Ninh, Tương Mai, Hoàng Mai, Hà Nội nên đã báo cho Công an phường Tương Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Nhận được tin báo của anh Vũ Minh Đ, tổ công tác Công an phường Tương Mai đã triển khai đến hiện trường và xác định đối tượng nghi vấn là Phạm Văn C nên đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với C. Tại chỗ, C thừa nhận có hành vi chiếm đoạt điện thoại của anh Đ. Công an phường Tương Mai đã lập biên bản và đưa Chiến về trụ sở Công an phường để xác minh làm rõ. Tại cơ quan công an, Phạm Văn C khai nhận: Do không có việc làm và cần tiền ăn tiêu nên Phạm Văn C đã nảy sinh ý định bắt xe ôm công nghệ từ các địa điểm khác nhau, chỉ đường loanh quanh để họ đi quãng đường dài rồi trên đường đi C tạo lập niềm tin với họ rồi lợi dụng để mượn điện thoại của họ giả vờ sử dụng nhưng thực tế C không hề sử dụng, sau đó C chỉ đường cho họ về khu vực cầu Nguyễn An Ninh, Tương Mai, Hoàng Mai, Hà Nội, bảo họ đứng ở đầu cầu chờ C, còn C vẫn cầm điện thoại của họ đi vào trong ngõ và tìm cách trốn thoát để chiếm đoạt điện thoại của họ. Với cùng một thủ đoạn trên C đã chiếm đoạt được được 04 chiếc điện thoại di động của 04 lái xe ôm như sau: Vụ thứ nhất: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 25/02/2023, anh Vũ Minh Đ (sinh năm 2002; Trú tại: ngách 20, ngõ Trại Cá, Trương Định, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) là xe ôm Grab đứng chờ khách tại cổng trường Đại học Kinh tế quốc dân tại phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội thì C đến bảo đi xe ôm, sau đó C cố tình chỉ đường để anh Đ đi qua nhiều tuyến phố và liên tục hỏi mượn điện thoại SAMSUNG A52 màu đen của anh Đ để gọi điện, đồng thời sử dụng điện thoại của C bấm vào số của anh Đ để giả vờ có người quen của C gọi đến thì nghe. Khi đến đầu cầu Nguyễn An Ninh, C bảo anh Đ dừng xe, đứng lại đợi C còn C vẫn cầm điện thoại của anh Đ áp mang tai để
giả vờ như đang nghe điện, anh Đ không nghi ngờ gì thì C tiếp tục đi thẳng vào ngõ 160 Nguyễn An Ninh và lợi dụng ngõ thông sang ngõ khác và tẩu thoát. Khoảng mười phút sau, anh Đ không thấy C quay lại trả điện thoại nên đi vào ngõ để tìm C nhưng không thấy C đâu. Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 19/03/2023, anh Nguyễn Gia P (sinh năm 2003; Trú tại: Yên Sở, quận Hoàng Mai, Hà Nội) là xe ôm đứng chờ khách tại ngã ba Nguyễn Đức Cảnh - Trương Định, Tương Mai, Hoàng Mai, Hà Nội thì C đến bảo đi xe ôm, sau khi cũng chỉ cho anh P đi qua nhiều tuyến phố và mượn điện thoại Iphone 11 Pro Max màu đen của anh P giả vờ nghe, gọi rồi lại trả cho anh P nhằm tạo niềm tin. Khi đi đến đầu cầu Nguyễn An Ninh, Tương Mai, Hoàng Mai, Hà Nội C bảo anh P dừng xe để đứng đợi C, còn C vẫn đang lợi dụng điện thoại của anh P, giả vờ đang nghe điện tìm địa chỉ, khi anh P không chú ý thì C đi bộ vào ngõ 160 Nguyễn An Ninh. Khoảng một lúc sau anh P không thấy C quay lại trả điện thoại nên đã đi theo vào ngõ để tìm nhưng không thấy C. Vụ thứ ba: Khoảng 03 giờ 50 phút ngày 19/04/2023, anh Ngô Xuân T (sinh năm 1993; Trú tại: Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) là xe ôm đứng chờ khách tại Ga Hà Nội, phố Lê Duẩn, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội thì C đến bảo đi xe ôm, sau đó C cũng dùng thủ đoạn tương tự nêu trên, đưa anh T về khu vực đầu cầu Nguyễn An Ninh, Tương Mai, Hoàng Mai, Hà Nội, giả vờ mượn điện thoại của anh Trường sau đó chiếm đoạt của anh T là 01 điện thoại Iphone 11 màu đen. Vụ thứ tư: Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 21/04/2023 anh Đỗ Đức C (sinh năm 2002; Trú tại Hợp Thịnh, Hiệp Hòa, Bắc Giang) là xe ôm đứng chờ khách tại phố Chùa Bộc, Trung Liệt, Đống Đa, Hà Nội thì C đến bảo đi xe ôm, sau đó C cũng dùng thủ đoạn tương tự như trên đưa anh C về khu vực đầu cầu Nguyễn An Ninh, giả vờ hỏi mượn điện thoại của anh C sau đó chiếm đoạt của anh C 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max màu xanh. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai đã tiến hành trưng cầu định giá tài sản. Tại các Bản kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàng Mai số: 131, 139, 140/KL-HĐĐGTS, ngày 23, 30 tháng 05 năm 2023 kết luận: 01 Chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung nhãn hiệu A52 màu đen có trị giá 5.000.000 đồng; 01 Chiếc điện thoại có nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu đen, màn hình bị kẻ sọc một đường có trị giá 13.000.000 đồng; 01 Chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu đen, có ốp bằng da màu nâu vàng có trị giá 5.000.000 đồng; 01 Chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh, số Imeil: 353896103223354 trị giá 6.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản mà Phạm Văn C đã chiếm đoạt của các bị hại là 29.000.000 (Hai mươi chín triệu) đồng. Lời khai của những người bị hại là anh Nguyễn Gia P, Vũ Minh Đ, Đỗ Đức C, Ngô Xuân T phù hợp với lời khai của Phạm Văn C về nội dung vụ
việc. Người bị hại là anh Ngô Xuân T còn trình bày thêm sau khi C lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì tài khoản Momo của anh T bị trừ 3 lần với tổng số tiền là 800.000 đồng. Tuy nhiên, C không thừa nhận việc có hành vi chuyển tiền từ tài khoản Momo của anh T nên cơ quan điều tra không xem xét. Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra, tổ chức cho các bị hại và Phạm Văn C diễn biến lại hành vi sự việc phạm tội, nhận dạng đối với C. Quá trình thực nghiệm thấy khi C lên xe ngồi sau các bị hại C đã liên tục giả vờ hỏi mượn và sử dụng điện thoại của họ suốt dọc đường, cho đến khi C đưa được họ về khu vực cầu Nguyễn An Ninh, do ở đây có các ngõ thông nhau, là nơi thuận lợi để C tẩu thoát thì C xuống xe, dặn dò người bị hại đứng chờ C đi vào ngõ rồi sẽ quay ra và chở C về địa điểm ban đầu lúc lên xe, sau đó C ngang nhiên cầm điện thoại và rời đi trước mặt người bị hại, người bị hại không có ý kiến gì, Chiến tiếp tục đi khoảng 50 - 60m thì rẽ vào ngõ và đi mất, người bị hại sau khi không thấy C quay trở ra thì mới đi vào ngõ để tìm nhưng không thấy C đâu nữa. Đối với đối tượng tên T (không rõ nhân thân) đã mua 04 chiếc điện thoại do C lừa đảo được của các bị hại, không xác định được đối tượng T để làm rõ về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và hành vi sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt 800.000 đồng từ tài khoản Momo của anh T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 28 ngày 03/07/2023 để điều tra xác minh làm rõ xử lý sau. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, số imei 352849114641651 thu giữ của Phạm Văn C, quá trình điều tra xác định C sử dụng làm công cụ phương tiện liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên cơ quan điều tra đã tiến hành tạm giữ đối với chiếc điện thoại trên. Chiếc điện thoại hiện đang nhập kho vật chứng công an quận Hoàng Mai. Đối với 04 chiếc điện thoại C chiếm đoạt được của các bị hại cơ quan điều tra không thu hồi được số điện thoại trên. Các bị hại đều yêu cầu C bồi thường trị giá tài sản, hiện C chưa bồi thường. Bản cáo trạng số 191/CT-VKS ngày 14/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội: Truy tố Phạm Văn C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa: Bị cáo Phạm Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân quận Hoàng Mai truy tố là đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo; sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cùng
nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: - Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn C từ 24 tháng đến 28 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt khẩn cấp 05/5/2023. - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo. - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh anh Vũ Minh Đ số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng; Bồi thường cho anh Nguyễn Gia P số tiền 13.000.000 (Mười ba triệu) đồng; Bồi thường cho anh Ngô Xuân T số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng; Bồi thường cho anh Đỗ Đức C số tiền 6.000.000 (Sáu triệu) đồng, trị giá 04 chiếc điện thoại không thu hồi được. - Về xử lý vật chứng: Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, Imei: 352849114641651 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Bị cáo Phạm Văn C không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]. Lời khai của bị cáo Phạm Văn C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Để có tiền ăn tiêu, bị cáo Phạm Văn C đã nghĩ ra thủ đoạn giả vờ bắt xe ôm công nghệ đi từ các địa điểm khác nhau, sau đó trên đường đi bị cáo trò chuyện tạo lòng tin với lái xe rồi hỏi mượn điện thoại của lái xe để gọi điện nhưng thực tế bị cáo không gọi cho ai cả mà dùng điện thoại của lái xe gọi vào máy điện thoại của bị cáo rồi bị cáo gọi lại vào điện thoại của lái xe ôm giả vờ trao đổi thông tin với người khác. Bị cáo hướng dẫn lái xe đi về khu vực bờ sông sét, đầu cầu Nguyễn An Ninh, phường Tương Mai, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội rồi bị cáo xuống xe mang theo điện thoại của lái xe ôm đi vào ngõ 160 Nguyễn An Ninh có một đầu ngõ thông với ngõ Trại Cá rồi tẩu thoát cùng điện thoại của lái xe. Với cùng thủ đoạn trên, vào ngày 25/02/2023, bị cáo chiếm đoạt của anh Vũ Minh Đ 01 chiếc điện thoại
nhãn hiệu Samsung nhãn hiệu A52 màu đen có trị giá 5.000.000 đồng. Ngày 19/03/2023 bị cáo chiếm đoạt của anh Nguyễn Gia P 01 chiếc điện thoại có nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu đen, màn hình bị kẻ sọc một đường có trị giá 13.000.000 đồng. Ngày 19/04/2023 bị cáo chiếm đoạt của anh Ngô Xuân T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu đen, có ốp bằng da màu nâu vàng có trị giá 5.000.000 đồng. Ngày 21/04/2023 C chiếm đoạt của anh Đỗ Đức C 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh, trị giá 6.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản Phạm Văn C đã chiếm đoạt của các bị hại là 29.000.000 (Hai mươi chín triệu) đồng. Các tài sản hiện không thu hồi được và bị cáo chưa bồi thường cho người bị hại. Hành vi nêu trên của Phạm Văn C đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 191/CT-VKS ngày 14/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội đề nghị truy tố xét xử bị cáo Phạm Văn C theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ đúng pháp luật. [3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, không những gây mất trật tự trị an xã hội mà xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. [4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Văn C có 02 tiền án tại Bản án số 471/2005/HSST ngày 24/10/2005 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội và Bản án số 221/2005/HSST ngày 16/12/2005 của Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội đều xử phạt Phạm Văn C về tội “Cướp tài sản” (đã xóa án tích). Bị cáo 04 lần thực hiện hành vi phạm tội vào các ngày 25/02/2023, ngày 19/03/2023, ngày 19/04/2023 và ngày 21/04/2023 nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Quá trình điều travà tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. [5]. Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy bị cáo Phạm Văn C thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản người khác trái pháp luật nên cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc bằng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sồng xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân thủ pháp luật và phòng ngừa chung. Bị cáo làm nghề tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [6]. Về trách nhiệm dân sự: 04 chiếc điện thoại di động bị cáo chiếm đoạt không thu hồi được và bị cáo chưa bồi thường cho người bị hại nên buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Vũ Minh Đ số tiền 5.000.000 đồng trị giá chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung nhãn hiệu A52 màu đen. Bồi thường cho anh Nguyễn Gia P số tiền 13.000.000 đồng trị giá chiếc điện thoại nhãn hiệu
Iphone 11 Pro Max màu đen. Bồi thường cho anh Ngô Xuân T số tiền 5.000.000 đồng trị giá chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu đen. Bồi thường cho anh Đỗ Đức C số tiền 6.000.000 đồng trị giá chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh. Tổng số tiền bị cáo C phải bồi thường cho các bị hại là 29.000.000 đồng. [7]. Về vật chứng: Tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, Imei: 352849114641651 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. [8]. Các vấn đề khác trong vụ án: Đối với đối tượng tên T đã mua 04 chiếc điện thoại do bị cáo C lừa đảo được của các bị hại, do không xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 28 ngày 03/07/2023 để điều tra xác minh làm rõ về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và hành vi sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt 800.000 đồng từ tài khoản Momo của anh Ngô Xuân T và xử lý sau là có căn cứ. [9]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí bồi thường dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587 và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015: Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 Mục I; Khoản 1.3 mục II Danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết: 1. Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt khẩn cấp 05/5/2023. - Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. 2. Về bồi thường dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh anh Vũ Minh Đ số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng; Bồi thường cho anh Nguyễn Gia P số tiền 13.000.000 (Mười ba triệu) đồng; Bồi thường cho anh Ngô Xuân T số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng; Bồi thường cho anh Đỗ Đức C số tiền 6.000.000 (Sáu triệu) đồng. 3. Xử lý vật chứng: Tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, Imei: 352849114641651.
(Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai theo Phiếu nhập vật chứng số 0213 ngày 25 tháng 7 năm 2023). 4 . Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn C phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.450.000 (Một triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng án phí bồi thường dân sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận: -VKSND quận Hoàng Mai; - Công an quận Hoàng Mai; - Chi cục THADS quận Hoàng Mai; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án./. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Tạ Thị H |