vanban.org

Bản án 186/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 06/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc A phạm tội: “Vô ý làm chết người”.

Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và Nghị quyết… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc A - phạm tội vô ý làm chết người (điều 128 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quốc A phạm tội: “Vô ý làm chết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 186/2023/HS-ST
Ngày 06-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thắm;

Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 176/2023/HSST ngày 18 tháng 8 năm 2023 theo Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số 160/2023/QĐXXST–HS ngày 23 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Quốc A, sinh năm 1999 tại tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp G, xã SB, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Ấp G, xã SB, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần NH, sinh năm 1971 và bà Trần TN, sinh năm 1973; bị cáo có 02 anh em, lớn sinh năm 1998, nhỏ là bị cáo; bị cáo có vợ là bà Thị HT, sinh năm 2000 và có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; Ngày 07/3/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1995; hộ khẩu thường trú: Ấp VL, xã VT, huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1964 – cha ruột;

2. Bà Trương Thị L, sinh năm 1969 – mẹ ruột.

Cùng hộ khẩu thường trú: Ấp VL, xã VT, huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty TNHH GT; địa chỉ: Lô E, Khu công nghiệp V, xã AT, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Lin Shih C – Chức danh: Giám đốc. Là đại diện theo uỷ quyền theo Giấy uỷ quyền ngày 01/01/2023. Vắng mặt theo Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Lê VT, sinh năm 1988. Vắng mặt.

2. Ông Lê TT, sinh năm 1982. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quốc A và Nguyễn Ngọc P là công nhân của Công ty TNHH GT khu công nghiệp VH. thuộc ấp L, xã AT, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Khoảng 07 giờ ngày 13/10/2019, Nguyễn Ngọc P cùng ông Lê VT đến sửa đường ống nước dưới hố ga nước thải, cạnh đường đi nội bộ, trước cửa xưởng sợi của Công ty TNHH GT. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, ông Lê TT được phân công điều khiển xe nâng hàng nhãn hiệu Grendai 25 để chuyển một số vật tư từ xưởng dệt đến xưởng sợi, còn A được phân công theo phụ xe nâng hàng cho ông TT. Khi ông TT điều khiển xe nâng hàng chở vật tư đến trước cửa xưởng sợi thì dừng lại, tắt máy (chìa khóa vẫn để trên ổ khóa xe) rồi xuống xe đi vào xưởng sợi. Lúc này, A bước qua ngồi vào vị trí tài xế và dùng tay mở chìa khóa xe, gạt cần số xe chạy thử. Do A không biết điều khiển xe nên xe nâng hàng di chuyển đến chỗ ông P đang đứng dưới chỗ miệng hố (phần vai và đầu thò trên mặt đất), xe va vào vai và cổ ông P làm ông P bất tỉnh, được mọi người đưa đi Bệnh viện cấp cứu. Đến ngày 08/11/2019, ông P tử vong.

Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường:

- Hiện trường là khu vực lối đi giữa hai khu nhà xưởng trong Công ty GT.

- Lối đi giữa hai nhà xưởng được trám bê tông, rộng 8,80m. Trên lối đi có chiếc xe nâng màu xanh hiệu Grendai 25, xe đỗ gần vách tường nhà xưởng tổ sợi, đầu xe quay về hướng tây. Bánh trước bên phải của xe cách vách tường 1,70m, bánh sau bên phải của xe cách vách tường nhà xưởng 1,90m ở phần khung nâng phía đầu xe phát hiện chất dịch màu đen đã khô dính vào khung xe.

- Từ xe nâng về hướng tây 2,80m có một hố ga đang thi công dang dở, miệng hố ga hình vuông có các cạnh dài 55cm, hố sâu 1,40cm và cách vách nhà xưởng tổ sợi 1,60m, xung quanh miệng hố ga phát hiện có nhiều vết màu nâu đỏ nhỏ giọt đã khô, từ khu vực miệng hố ga về xe nâng phát hiện có một vết hằn màu đỏ gạch in trên mặt nền bê tông lối đi, vết hằn kéo về bánh trước bên phải của xe nâng hàng.

Theo Kết luận giám định pháp y tử thi số 888/GĐPY ngày 11/11/2019, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Nguyên nhân tử vong của Nguyễn Trọng P nhiều khả năng do tổn thương cột sống cổ, tổn thương tủy sống cổ đã được điều trị khoảng 25 ngày tại Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 03/2023/GĐHS ngày 20/02/2023 của Phân Viện pháp y Quốc Gia tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sây sát da bầm tụ máu vùng chẩm, vai lưng và 2 tay.

- Gãy đốt sống cổ C5; trật C5, C6. Giập tủy cổ.

- Viêm phổi, tràn dịch màng phổi hai bên.

2. Kết luận:

- Nguyên nhân tử vong của nạn nhân Nguyễn Ngọc P là do chấn thương gãy cột sống cổ gây hôn mê, liệt tứ chi, bội nhiễm viêm phổi. Bệnh không đáp ứng điều trị.

- Thương tích trên của nạn nhân Nguyễn Ngọc P là do vật tày tác động trực tiếp gây nên.

- Vụ tai nạn ngày 13/10/2019 gây thương tích trên cho nạn nhân Nguyễn Ngọc P và là nguyên nhân dẫn đến Nguyễn Ngọc P tử vong.

Về trách nhiệm dân sự: Trần Quốc A đã tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Ngọc Pồng là cha của Nguyễn Ngọc P số tiền 100.000.000 đồng. Ông H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Trần Quốc A.

Tại bản Cáo trạng số 176/CT-VKSBC ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đã truy tố bị cáo Trần Quốc A về tội: “Vô ý làm chết người” quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và nội dung bản Cáo trạng số 176/CT-VKSBC ngày 18 tháng 8 năm 2023.

Tại phần tranh luận:

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát theo Cáo trạng số 176/CT-VKSBC ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Trần Quốc A về tội: “Vô ý làm chết người” quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Quốc A từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với tội danh, điều luật và mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát truy tố và đề nghị.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bị cáo đã nhận thức hành vi của mình và có con nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Quốc A tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 07 giờ ngày 13/10/2019, tại đoạn đường đi trước cửa xưởng sợi Công ty TNHH GT khu công nghiệp V thuộc ấp L, xã AT, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Trần Quốc A đã có hành vi tự ý điều khiển xe nâng hàng chạy thử khi không có chứng chỉ điều khiển và không biết điều khiển làm xe chạy về phía trước, va chạm vào vai, đầu, cổ của ông Nguyễn Ngọc P đang sửa chữa đường nước dưới hố ga trước cửa xưởng sợi dẫn đến ông P bị thương tích và sau đó tử vong.

Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vô ý làm chết người” quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 176/CT-VKSBC ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tính chất: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, tội phạm do bị cáo thực hiện với lỗi vô ý nhưng thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại đến tính mạng của bị hại đồng thời ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, hành vi nêu trên của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm với mức án tương xứng với tính chất mức độ hậu quả gây ra nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; người đại diện hợp pháp bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.

Đối chiếu với những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Trần Quốc A có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao cho bị cáo hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục.

Lời đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.

Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo Trần Quốc A đủ điều kiện cho hưởng án treo (như đã phân tích tại Mục [4]) nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo Trần Quốc A, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 16/12/2019, bị cáo Trần Quốc A đã tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Ngọc P là cha ruột của bị hại Nguyễn Ngọc P số tiền 100.000.000 đồng. Ông H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu giải quyết gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc A phạm tội: “Vô ý làm chết người”.

1. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 02/2022/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Quốc A cho Ủy ban nhân dân xã SB, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Trần Quốc A là người được cho hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp hình phạt của Bản án mới theo quy định.

2. Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 97/2023/LCCT-TA ngày 31/8/2023 đối với bị cáo Trần Quốc A kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

3. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Quốc A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ