- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Duy L - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Duy L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/9/2023).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 186/2023/HS-ST Ngày 29 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thương Hền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mùa Thị Hà và bà Lò Thị Hiêng
- Thư ký phiên tòa: Bà Quàng Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thuân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 183/2023/HSST, ngày 13 tháng 9 năm 2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2023/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo.
Họ và tên: Phạm Duy L (Tên gọi khác: Không) - Sinh năm 1990; Nơi sinh: Tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKHKTT: Số nhà 83, tổ dân số 3, phường T T, thành phố B, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn H, (Đã chết) và bà Nguyễn Thị N; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/5/2023 cho đến nay (có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân K – Trưởng Văn phòng Luật sư bảo Châu và cộng sự, tỉnh Điện Biên; Trụ sở: Số nhà 55, tổ 11, phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên (Có mặt).
* Bị hại:
- Anh Lê H H, sinh năm 1997; Địa chỉ: Tổ dân phố 9, phường N T, thành phố B, tỉnh Đ (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Quang H, sinh năm 2003; Địa chỉ: Tổ dân phố 9, phường N T, thành phố B, tỉnh Đ (Vắng mặt có lý do);
- Anh Lê Văn V, sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ 3, phường T T, thành phố B, tỉnh Đ (Vắng mặt có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 17/01/2023, Lê Quang H điều khiển xe máy chở Lê H H tham gia giao thông có xảy ra mâu thuẫn với Phạm Duy L đang điều khiển xe máy chở Lê Văn V. Khi đi đến ngã tư đèn giao thông gần trường Trung học phổ thông thành phố Điện Biên Phủ L, V thấy H và H điều khiển xe lên vỉa hè và dựng trước cổng Liên đoàn Lao động tỉnh Điện Biên, tại tổ 02 phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ. L cũng điều khiển xe máy lên vỉa hè trước cửa của nhà dân gần đó, cách chỗ H và H dựng xe máy khoảng 05 mét rồi tiến đến đứng nói cHện với H và H về việc lúc trước gần xảy ra tai nạn với nhau. Khi đang nói cHện, L nói: “chúng mày có thích đánh nhau không?”. H, H nói: “có”. L bực tức nên cởi mũ bảo hiếm nhãn hiệu PHONENIX, loại mũ lưỡi trai nửa đầu, bằng nhựa cứng, chắc, màu đen, chóp mũ hình cầu, bên trong có lót xốp, tổng khối lượng 350 gam, đang đội, cầm mũ bằng tay phải đập về phía đầu của H một phát. H lao về phía L để đánh nhau thì L tiếp tục đánh trúng vào mũ bảo hiểm của H, H không bị thương tích gì. L nói với V: “Vào đi V ơi”. V hiểu L rủ vào đánh H nên lấy ở trước cửa ngôi nhà gần đó một chiếc chổi lau nhà có cán bằng kim loại, cán chổi bị gãy một phần, phần còn lại dài khoảng 70cm đánh vào phía người H. Sau đó H đi bộ ra phía sau H, gần đuôi xe của L, L đi đến đứng vuông góc với H, mặt L hướng về phía vai phải của H cách H khoảng 01m, tay phải L cầm vào phần dây của mũ bảo hiểm đập theo hướng từ dưới lên trên, từ phải qua trái thì trúng phần nhựa cứng của chóp mũ vào vùng mặt của H làm H ngã ra vỉa hè. Tiếp đó L quay sang dùng mũ bảo hiểm và chiếc trổi trên đánh vào người và mũ bảo hiểm H đang đội nhưng không gây thương tích. Chiếc mũ bảo hiểm của L bị vỡ thành 02 mảnh. Sau đó mọi người đến can ngăn nên hai bên không đánh nhau nữa. Sau sự việc H bị thương tích gồm: 01 vết thương hở ở mũi; 01 vết trầy xước kích thước 0,7cm x 0,7 cm không rõ hình trên môi dưới; 01 vết trầy xước đã đóng vảy kích thước 1,2 cm x 0,5cm cách mép phải khoảng 1,5cm; bên trong môi dưới có một vết trầy xước ửng đỏ kích thước 01cm x 0,6cm cách mép trái khoảng 2cm; 01 vết trầy xước ửng đỏ đã đóng vảy kích thước khoảng 1cm x 0,8cm tại môi trên cách mép trái khoảng 2,5cm. H, V, L không bị thương tích gì. H đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên từ ngày 17/01/2023 đến ngày 19/01/2023 thì ra viện.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 mũ bảo hiểm bị vỡ bằng hai mảnh. 01 chiếc chổi lau nhà có cán bằng kim loại của anh Hà Chí Hiếu, anh Hiếu không biết bị cáo sử dụng để đánh nhau Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý đồ vật tài liệu số 44 ngày 29/7/2023.
Về dân sự: Anh Lê H H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 30.000.000 đồng, bị cáo đồng ý với yêu cầu của bị hại nhưng chưa bồi thường. Ngoài ra không ai có yêu cầu gì khác.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 27/KLTTCT-TTPY ngày 23/02/2023 thương tích L gây ra cho Lê H H gồm: 01 sẹo phần mềm hình gần tròn ở vùng má trái cách mép trái 1cm, có đường kính 0,2cm, sẹo phẳng, màu nâu =3%. 01 (một) sẹo phần mềm ở cạnh rãnh nhân trung bên trái, có kích thước: 0,2cm x 0,1cm, sẹo phẳng, màu hồng =3%; 01 (một) sẹo phần mềm hình gần tròn ở môi trên bên trái, có đường kính 0,2cm, sẹo phẳng, màu hồng = 3%; 01 (một) sẹo phần mềm ở môi dưới bên trái, có kích thước: 0,3cm x 0,2cm, sẹo phẳng, màu hồng = 3%; Tổn thương tháp mũi (Gãy xương chính mũi) = 8%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho Lê H H tại thời điểm giám định là 19%.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về vật gây thương tích số 29/KLVGTT-TTPY ngày 15/5/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Điện Biên kết luận: Chiếc mũ bảo hiểm có đặc điểm nêu trên có thể gây nên thương tích cho anh H và phù hợp với đặc điểm và cơ chế hình thành dấu vết thương tích do tác động của ngoại lực của vật tày gây nên.
Tại bản cáo trạng số: 137/CT-VKSTPĐBP ngày 13/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố bị cáo Phạm Duy L về tội: Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thương tích. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS: Xử phạt bị cáo Phạm Duy L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
- Tịch thu tiêu hủy: 01mũ bảo hiểm bị vỡ bằng hai mảnh
- Chấp nhận biên bản trao trả tài sản cho các chủ sở hữu
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Quan điểm người bào chữa: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017, cho bị cáo được hưởng án treo.
* Quan điểm của Viện kiểm sát: Chấp nhận áp dụng điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Đối với việc người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng Điều 65 BLHS, cho bị cáo được hưởng án treo, đại diện Viện kiểm sát không nhất trí vì đến phiên tòa xét xử bị cáo chưa có lời xin lỗi với bị hại, thể hiện bản thân bị cáo chưa ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo, do vậy đại diện VKS không nhất trí việc đề nghị của người bào chưa về việc áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo.
* Quan điểm người bào chữa: Tôi vẫn giữ nguyên quan điểm không tranh luận gì thêm. Đề nghị HĐXX xem xét.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về phần luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với Đơn trình báo của bị hại; Vật chứng thu giữ, Kết luận pháp y, Kết luận điều tra, lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 17/01/2023, tại tổ 02, phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, Phạm Duy L đã có hành vi dùng 01 mũ bảo hiểm loại mũ nửa đầu, bằng nhựa cứng, mật độ chắc, khối lượng 350 gam là hung khí nguy hiểm đập 01 nhát vào người anh Lê H H gây tổn thương cơ thể 19% sức khỏe, L có mục đích gây thương tích cho anh H. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 /BLHS.
Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% …, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc thạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng …, hung khí nguy hiểm …
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
… đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.
[2] Về tính chất mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thiếu ý thức đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, bị cáo đã dùng muc bảo hiểm đánh vào người anh H, gây thương tích cho bị hại 19% sức khỏe. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên và thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Chính vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra.
[3]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện sửa chữa bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo. Gia đình bị cáo khó khăn bố mất sớm, mẹ bị bệnh hiểm nghèo không có khả năng lao động, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Căn cứ các quy định của pháp luật và xem xét toàn bộ nội dung vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy tuổi đời của bị cáo còn trẻ và có nhân thân tốt có nơi cư trú rõ ràng và bị cáo có ba tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự. Để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, HĐXX xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, đồng thời giao bị cáo cho gia đình và chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án, đó cũng là thể hiện sự khoan hồng của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta đối với người phạm tội và phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.
[4]. Xét đề nghị của người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ, do vậy HĐXX chấp nhận.
[5].Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo và bị hại thỏa thuận việc bồi thường là 30.000.000 đồng. Ngày 29/9/2023 đã bồi thường 20.000.000đồng, thỏa thuận ngày 01/12/2023 bị cáo có trách nhiệm trả bị hại số tiền 10.000.000đồng. Bị hại có mặt tại phiên tòa và không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc bồi thường, đề nghị HĐXX ghi nhận việc đến ngày 01/12/2023 bị cáo phải có trách nhiệm trả bị hại số tiền còn lại là 10.000.000đồng. Bị hại có đơn xin cho bị cáo được hưởng mức án treo. Xét đề nghị của bị hại là có căn cứ, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6].Về vật chứng: Đối với 01 mũ bảo hiểm cũ đã qua sử dụng bị vỡ thành hai mảnh cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 chiếc chổi lau nhà có cán bằng kim loại của anh Hà Chí Hiếu, anh Hiếu không biết bị can sử dụng để đánh nhau Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý đồ vật tài liệu số 44 ngày 29/7/2023, việc trả tài sản là có căn cứ HĐXX chấp nhận.
Đối với Lê Văn V đã có hành vi sử dụng chiếc chổi lau nhà đánh anh Lê Quang H nhưng không gây thương tích. Công an thành phố Điện Biên Phủ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 6.500.000 đồng, do vậy HĐXX không xem xét.
Đối với anh Lê Quang H đã có hành vi túm cổ anh V và đẩy bị cáo L ra đường nhưng không gây thương tích cho bị cáo L và anh V, anh H có đơn xin xét xử vắng mặt, do vậy HĐXX không xem xét.
[7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an thành phố Điện Biên Phủ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[8]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331; 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 92 Luật thi hành án hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Duy L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/9/2023). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T T, thành phố B, tỉnh Đ giám sát giáo dục, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường T Th, thành phố Đ, trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án, trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự;
“Trong thời gian thử thách, bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù”.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm cũ đã qua sử dụng bị vỡ thành hai mảnh.
(Vật chứng đã được Công an thành phố Điện Biên Phủ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14 /9/2023);
- Chấp nhận biên bản trao trả tài sản cho chủ sở hữu
3. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận bị hại và bị cáo thỏa thuận về mức bồi thường. Bị cáo và bị hại thảo thuận, bị cáo còn phải trả bị hại 10.000.000đồng vào ngày 01/12/2023.
4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 29/9/2023. Bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 29/9/2023. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tòa niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QL, nghĩa vụ liên quan; - VKSNDTPĐBP; - VKSND tỉnh ĐB; - Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP - Cơ quan THAHS TP ĐBP; - TAND tỉnh Điện Biên; - Trại tạm giam; - Sở Tư pháp tỉnh ĐB; - Chi cục THADS TP ĐBP; - HS THAHS; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. THÀNH VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thương Hền THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Thương Hền |