- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ốc Văn Sơn phạm tội Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm d n sự: Buộc ị cáo Ốc Văn S ồi thường cho ị hại Lữ Thị Nsố tiền 15.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 186/2023/HS-ST Ngày: 28 - 12 - 2023 |
N DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Trang
Thẩm phán:
Ông Nguyễn Anh Sơn
Các Hội thẩm Nhân dân:
Ông Võ Duy Bảo
Ông Dương Thanh Cảnh
Bà Nguyễn Thị Quế Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Ngô Văn Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 192/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 269/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ốc Văn S, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1987, tại huyện Quế P, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký HKTT: Bản Cắm Pỏm, xã Cắm M, huyện Quế P, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 4/12; d n tộc: Khơ mú; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ốc Văn D và bà Ốc Thị S; có vợ Lữ Thị N(Bị hại trong vụ án), sinh năm 1992 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo ị ắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2023. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa: Bà Tạ Thị An - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị hại: Lữ Thị N, sinh năm: 1992.
Nơi cư trú: Bản Cắm Pỏm, xã Cắm M, huyện Quế P, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Ông Pịt Văn H, sinh năm: 1999. Nơi cư trú: Bản Na, xã Nậm N, huyện Quế P, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
+ Ông Ng n Văn H, sinh năm: 1964. Nơi cư trú: Bản Cắm Pỏm, xã Cắm M, huyện Quế P, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 ngày 27/7/2023 chị Lữ Thị N đi làm về nhà thấy Ốc Văn S đang ngồi uống rượu cùng với ông Ng n Văn H, sinh năm 1964, trú cùng ản nên hai vợ chồng có tranh cãi qua lại. Khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi ăn mì gói xong Ốc Văn S nằm ngủ còn chị N đi sang nhà hàng xóm chơi và uống rượu. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Ốc Văn S gọi chị N về, khi chị N về đến nhà thì do ực tức chị N nên S nảy sinh ý định làm thịt lợn, S đi vào gian ếp, lấy trên gác ếp một khẩu súng k p tự chế dài 109,5cm để đi ắn lợn của gia đình (trước đó khoảng một tuần, S đã nhồi thuốc súng và đạn ghém vào nòng súng để chuẩn ị đi săn ắn). Khi S cầm khẩu súng k p đi ra đến gian nhà ch nh thì gặp chị N, chị N dùng tay cầm lấy nòng súng, giữ nòng súng chĩa vào ụng của mình và nói “Anh có giỏi thì ắn đi”. Lúc này, S đang đứng đối diện với chị N, hai tay cầm súng, nòng súng hướng vào ụng chị N, đầu nòng súng cách chị N khoảng 20cm. Do ực tức và vợ thách thức nên Ốc Văn S dùng ngón tay trỏ phải siết cò súng, ắn một phát vào vùng ụng của chị N. Thấy chị N ị thương, S thả khẩu súng ra và đỡ chị N nằm xuống sàn rồi chạy đi gọi mọi người đến giúp đỡ và đưa chị N đi ệnh viện cấp cứu. Sau khi đưa chị N đến Bệnh viện hữu nghị Đa khoa Nghệ An cấp cứu, đến 9 giờ ngày 28/7/2023, Ốc Văn S đến Công an huyện Quế P xin đầu thú và khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội như nêu trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quế P, tỉnh Nghệ An đã thành lập Hội đồng khám nghiệm hiện trường; xem xét dấu vết trên thân thể của chị Lữ Thị N; trưng cầu giám định thương t ch của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Nghệ An giám định tỷ lệ thương t ch của chị Lữ Thị N.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 28/7/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế P, tỉnh Nghệ An lập tại Bệnh viện Hữu nghị Đa Khoa Nghệ An, trên thân thể của chị Lữ Thị N có các vết thương như sau: “- Vị trí: Vùng dưới rốn, có vết thương tròn, đường kính khoảng 3cm có mạc nối thoát ra ngoài. (Ngoài ra không có vết thương nào khác)".
Tại hồ sơ ệnh án số 655356 của Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An thể hiện chị Lữ Thị Ncó các tổn thương như sau:
-“. Vết thương thấu bụng. Viêm phúc mạc, thủng ruột non nhiều vị trí, thủng đại tràng Sigma, thủng tử cung, thủng bàng quang, bỏng hoại tử túi mật do hỏa khí.
- CT Scanner bụng - tiểu khung: thủng tạng rỗng. Hình ảnh dị vật kim khí trong ổ bụng vùng mạng sườn bên phải và nhiều dị vật kim khí vùng hạ tiểu khung".
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 512/KLTTCT- TTPY ngày 07/9/2023 của Trung tâm Pháp y Sở y tế Nghệ An, kết luận đối với chị Lữ Thị N:
"1. Các kết quả chính:
Thủng 04 lỗ đại tràng Sigma đã phẫu thuật khẩu lỗ thủng đại tràng và làm hậu môn N tạo.
- Thủng + dập nát + rách ruột non đoạn cách góc Trietz 120cm, đã phẫu thuật cắt đoạn ruột non bị thủng + rách + đập nát đã nối ruột non.
- Thủng nhiều lỗ ruột non đoạn cách góc Trietz 80cm, đã phẫu thuật khâu lỗ thùng ruột non.
- Hoại tử túi mật đã phẫu thuật cắt bỏ túi mật.
- Thủng bàng quang, thủng tử cung đã phẫu thuật khẩu lỗ thủng bàng quang và lỗ thủng tử cung, không để lại di chứng.
- Hiện tại: Còn hậu môn N tạo và 04 (bốn) mảnh kim khí ổ bụng.
- Một sẹo vết thương thành bụng bên phải; một sẹo mổ đường trắng giữa trên dưới rốn, hai sẹo mổ dẫn lưu ở bụng hố chậu bên phải và một sẹo mổ dẫn lưu ổ bụng thành bụng bên trải. Hiện tại ổn định”.
2. Kết luận: “- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lữ Thị Ntại thời điểm giám định là: 92% (chín mươi hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quế P đã trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An giám định dấu vết súng đạn đối với 01 (một) khẩu súng, 05 (năm) mẫu vật ằng kim loại thu giữ trong nhà của Ốc Văn S và 02 mẫu vật ằng kim loại thu giữ trong người của Lữ Thị N.
Tại Kết luận giám định số 13/KL-KTHS(Đ3-SĐ) ngày 02/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
“- Khẩu súng thu giữ trong nhà của Ốc Văn S gửi giám định là súng kíp tự chế - thuộc súng săn. Hiện tại súng còn sử dụng để bắn được. Khi sử dụng súng này bắn đạn vào cơ thể người có thể gây sát thương (chết hoặc bị thương).
- 02 (hai) mẫu vật bằng kim loại thu giữ trong người của Lữ Thị Ngửi đến giám định là thành phần của đạn ghém – thuộc súng săn. Loại đạn này có sử dụng được cho khẩu súng thu giữ trong nhà của Ốc Văn S gửi đến giám định. Không đủ cơ sở để kết luận 02 (hai) mẫu vật này có phải được bắn ra từ khẩu súng thu giữ trong nhà của Ốc Văn S gửi đến giám định hay không.
- 05 (năm) mẫu vật bằng kim loại thu giữ trong nhà của Ốc Văn S gửi giám định là thành phần của đạn ghém – thuộc súng săn. Các mẫu vật này thường được làm đạn cho súng kíp tự chế”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quế P đã trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An giám định dấu vết sinh vật đối với mẫu máu của Lữ Thị N, chất màu n u thu giữ tại hiện trường và 01 chiếc váy thu tại nhà của Ốc Văn S lúc khám nghiệm hiện trường.
Tại Kết luận giám định số 29/KL-KTHS(Đ2-SV) ngày 07/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
“- Mẫu máu thu của Lữ Thị Ngửi giám định thuộc nhóm máu A.
- Chất màu nâu thu tại hiện trường gửi giám định là máu người, thuộc nhóm máu A.
- Trên chiếc váy dài 120cm, rộng 80cm, có hoa văn không xác định gửi giám định có bám dính máu người, thuộc nhóm máu A”.
* Vật chứng Vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế P, tỉnh Nghệ An đã thu giữ: 01 (một) khẩu súng có tổng chiều dài 109,5cm, áng gỗ, nòng súng làm ằng kim loại màu đen, trên thân súng không có ký hiệu; 05 (năm) mẫu vật ằng kim loại màu đen, hình tròn, đường k nh 3mm; 01 (một) chiếc váy dài 120cm, rộng 80cm, có hoa văn không xác định; 02 (một) mẫu vật ằng kim loại màu đen, hình dạng ị óp méo, k ch thước (1x2)mm. Các vật chứng nêu trên hiện được bảo quản tại kho vật chứng Công an tỉnh Nghệ An.
* Về trách nhiệm d n sự: Quá trình đưa chị Lữ Thị N đi cấp cứu, ị can Ốc Văn S đã chi trả tiền thuê xe và hỗ trợ viện ph cho chị N với tổng số tiền là 5.400.000 đồng (Năm triệu ốn trăm nghìn đồng). Chị Lữ Thị N yêu cầu Lữ Văn S ồi thường thêm chi ph điều trị với số tiền là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
Bản cáo trạng số 205/CT-VKS-P2 ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố ị cáo Ốc Văn S về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Bị cáo Ốc Văn S đã thừa nhận dùng súng tự chế bắn vào bụng chị Lữ Thị N, gây tổn thương cho chị N, tỷ lệ 92%.
Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n, khoản 1, Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Ốc Văn S từ 12 đến 13 năm tù về tội “Giết người”.
Về trách nhiệm d n sự: Chị Lữ Thị N yêu cầu ị cáo Ốc Văn S ồi thường thêm chi ph điều trị 15.000.000đ, ị cáo đồng ý nên đề nghị chấp nhận sự thoả thuận giữa ị cáo và ị hại.
Về vật chứng vụ án: 01 (một) khẩu súng có tổng chiều dài là 109,5cm, áng gỗ, nòng súng làm ằng kim loại màu đen, trên th n súng không có ký hiệu là công cụ phương tiện phạm tội; 05 (năm) mẫu vật ằng kim loại màu đen, hình tròn, đường k nh 3mm; 01 (một) chiếc váy dàu 120cm, rộng 80cm, có hoa văn không xác định; 01 (một) mẫu vật ằng kim loại màu đen, hình dạng ị óp méo, k ch thước 1x2mm không còn giá trị sử dụng được thu giữ trong vụ án cần tịch thu tiêu hủy.
Về án ph : Buộc ị cáo Ốc Văn S phải chịu án ph hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Luật sư bào chữa cho ị cáo Ốc Văn S phát iểu: Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình nên nhất tr như tội danh Viện kiểm sát truy tố. Tại phiên tòa, ị cáo khai áo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, ị cáo đã tác động gia đình khắc phục một phầnhân dân sự cho gia đình ị hại. Bị cáo là người d n tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm b, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo.
Bị cáo Ốc Văn S đồng ý với quan điểm ào chữa của Luật sư, không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về nội dung: Tại phiên tòa, ị cáo Ốc Văn S khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố. Lời khai của ị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của ị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Nên có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 27/7/2023, tại nhà Ốc Văn S ở ản Cắm Pỏm, xã Cắm M, huyện Quế P, tỉnh Nghệ An đã xảy ra cãi cọ nhau giữa Ốc Văn S và vợ là chị Lữ Thị N. Do ực tức chị N có lời thách thức nên Ốc Văn S đã dùng súng k p tự chế ắn vào ụng chị Lữ Thị Ng y tỷ lệ thương t ch 92%. Chỉ vì m u thuẫn nhỏ nhặt giữa vợ chồng mà ị cáo Ốc Văn S dùng vũ kh nguy hiểm ắn vào vùng trọng yếu của ị hại g y thương t ch 92 %, nên Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố ị cáo Ốc Văn S về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Ốc Văn S phạm tội không có tình tiết tăng nặng
Sau khi phạm tội ị cáo đã đưa ị hại đi cấp cứu, đã chi ph tiền cứu chữa và được ị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Do đó, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về t nh chất, mực độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Hành vi phạm tội của ị cáo thuộc trường hợp đặc iệt nghiêm trọng, g y nguy hại lớn cho xã hội, x m phạm tới quyền được ảo hộ về t nh mạng sức khỏe của người khác được pháp luật Hình sự ảo vệ. Vì những m u thuẫn lời qua tiếng lại nhỏ nhặt trong đời sống chung của vợ chồng, và chị Lữ Thị Ncó lời thách thức mà Ốc Văn S đã dùng súng k p tự chế (thuộc súng săn) là vũ kh nguy hiểm, có t nh sát thương cao ắn vào ụng ch nh người vợ của mình, gây tổn thương nghiêm trọng cho chị N. Mặc dù được cấp cứu kịp thời nên không nguy hiểm tới t nh mạng nhưng để lại tổn thương rất nặng nề về sức khỏe của chị N, g y ảnh hưởng s u sắc đến gia đình, người th n của ị cáo cả về tinh thần, tr lực, tổn thất vật chất. Hành vi của ị cáo thể hiện t nh chất côn đồ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt ị cáo nghiêm minh với mức án thật nghiêm khắc, cần cách ly ị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài để trừng trị, răn đe, cải tạo, giáo dục riêng đối với ị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Việc ị hại không chết nằm ngoài ý thức chủ quan của ị cáo, nguyên N một phần đến từ việc ị cáo đã kịp thời đưa ị hại đi cấp cứu, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử ị cáo đã khai áo thành khẩn, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã đầu thú, ị cáo đã chi trả tiền thuê xe và hỗ trợ viện ph cho ị hại với số tiền 5.400.000 đồng, căn cứ Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 của Tòa án Nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015 trong trường hợp Quyết định hình phạt phạm tội chưa đạt. Do đó, cần xử phạt ị cáo Ốc Văn S mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An đề nghị là phù hợp với hành vi và t nh chất phạm tội, để ị cáo cố gắng lao động, cải tạo tốt sớm trở về chăm sóc gia đình, thể hiện t nh khoan hồng của pháp luật.
Về trách nhiệm d n sự: Chị Lữ Thị Nyêu cầu ị cáo ồi thường thêm chi ph điều trị với số tiền là 15.000.000 đồng ngoài số tiền thuê xe và viện ph ị cáo đã trả, ị cáo đồng ý ồi thường. Do đó, chấp nhận sự thỏa thuận của ị hại và ị cáo, uộc ị cáo ồi thường cho ị hại số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).
Về các quyết định và hành vi tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An, Điều tra viên; Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, Luật sư và ị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.
Về các nội dung khác của vụ án:
Đối với hành vi chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép khẩu súng k p tự chế (thuộc súng săn) của Ốc Văn S. Quá trình điều tra xác định Ốc Văn S chưa ị xử phạt vi phạm hành ch nh, chưa ị kết án về hành vi này nên chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An đã chuyển hồ sơ cho Công an tỉnh để xử phạt vi phạm hành ch nh theo thẩm quyền.
Về vật chứng vụ án: 01 (một) khẩu súng có tổng chiều dài là 109,5cm, áng gỗ, nòng súng làm àng kim loại màu đen, trên th n súng không có ký hiệu là công cụ phương tiện phạm tội; 05 (năm) mẫu vật ằng kim loại màu đen, hình tròn, đường k nh 3mm; 01 (một) chiếc váy dài 120cm, rộng 80cm, có hoa văn không xác định; 01 (một) mẫu vật ằng kim loại màu đen, hình dạng ị óp méo, k ch thước 1x2mm không còn giá trị sử dụng được thu giữ trong vụ án, cần giao cho Công an tỉnh Nghệ An xử lý theo quy định.
Về án ph : Buộc ị cáo Ốc Văn S phải chịu án ph hình sự, d n sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ốc Văn S 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 06/8/2023.
2. Về trách nhiệm d n sự: Buộc ị cáo Ốc Văn S ồi thường cho ị hại Lữ Thị Nsố tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành ánhân dân sự thì người được thi hành ánhân dân sự, người phải thi hành ánhân dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành ánhân dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành ánhân dân sự.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Giao Cục thi hành ánhân dân sự tỉnh Nghệ An: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc váy dài 120cm, rộng 80cm, có hoa văn không xác định. Đặc điểm vật chứng như Biên ản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 11 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Cục thi hành ánhân dân sự tỉnh Nghệ An.
- Giao Công an tỉnh Nghệ An xử lý theo quy định: 01 (một) khẩu súng có tổng chiều dài 109,5cm, áng gỗ, nòng súng làm ằng kim loại màu đen, trên thân súng không có ký hiệu; 05 (năm) mẫu vật ằng kim loại màu đen, hình tròn, đường k nh 3mm; 01 (một) chiếc váy dài 120cm, rộng 80cm, có hoa văn không xác định; 02 (một) mẫu vật ằng kim loại màu đen, hình dạng ị óp méo, k ch thước (1x2)mm.
Các vật chứng này hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng thuộc Phòng PC10 Công an tỉnh Nghệ An theo Phiếu nhập kho vật chứng số 41/PNK ngày 24/10/2023 của Công an tỉnh Nghệ An.
3. Về án ph : Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc Ốc Văn S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án ph hình sự sơ thẩm và 750.000đ ( ảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo Ốc Văn S có quyền kháng cáo Bản án lên Toà án Nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Chị Lữ Thị Nvắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Toà án cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản bản án theo quy định./.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại HN; - TAND cấp cao tại HN; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Nghệ An; - Cục THADS tỉnh Nghệ An; - Người tham gia tố tụng; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - UBND xã Cắm M, huyện Quế P, tỉnh Nghệ An. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Trang |