vanban.org

Bản án 186/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 21/11/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/11/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Hùng T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
[

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 186/2022/HS-PT
Ngày: 21.11.2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân

Ông Nguyễn Thanh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Việt là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tú Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 158/2022/TLPT-HS ngày 11 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Bùi Hùng T do có kháng cáo của bị cáo Bùi Hùng T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 177/2022/HS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Z, tỉnh Bình Định.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Hùng T, sinh năm 1985 tại tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: P, thị trấn Q, huyện R, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: X, sinh năm 1960 và bà: Y, sinh năm 1961; vợ: Z (đã ly hôn), có 01 người con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17h00 ngày 02/4/2022, Bùi Hùng T đến công viên X trên đường Y thuộc H, phường I, thành phố Z thì thấy chị Q dựng xe mô tô biển số 77L1-743.33 trong công viên rồi đi tập thể dục. Sau khi đợi chị Q đi khỏi, T tìm lấy 01 cây gỗ hình trụ tròn, dài 24,5 cm, cạy cốp xe nói trên và lấy 920.000 đồng cùng chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Pro có ốp lưng bằng nhựa màu đen, có in chữ “Supreme” màu trắng cất vào trong túi quần rồi bỏ đi thì bị Công an phường I tuần tra phát hiện, bắt giữ.

Ngày 27/4/2022 Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Z kết luận: trị giá điện thoại Samsung Galaxy J7 Pro 1.500.000 đồng; ốp lưng điện thoại di động Samsung Galaxy J7 pro trị giá 50.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 177/2022/HS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Z đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Hùng T 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Ngày 09.9.2022, bị cáo Bùi Hùng T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đề nghị quan điểm giải quyết vụ án: Tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị nhỏ, đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị hại có đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo nên đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo T không bào chữa, không tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong sơ vụ án thể hiện:

Bị cáo Bùi Hùng T có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của chị Q. Tổng trị giá tài sản bị cáo trộm cắp là 2.470.000đ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Hùng T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tình tiết định khung hình phạt để xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng khung hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX xét thấy bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của bị cáo.

[3] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Hùng T.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Bùi Hùng T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo cho UBND thị trấn Phú Thiện, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo Bùi Hùng T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ