vanban.org

Bản án 186/2021/HSST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 27/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và mức hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội: “trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Lê Văn K 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/02/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lê Văn K phạm tội: “trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 186/2021/HSST
Ngày 27-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thắm

2. Ông Lương Thanh Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 144/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Văn K, sinh năm 1971 tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: Số X, đường Nguyễn Thị Nhỏ, phường 9, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê H (đã chết) và bà Trần Thị T (đã chết); bị cáo có vợ là Trần Kim M, sinh năm 1977 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2005.

Tiền án:

Ngày 19/3/1997, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 349/HSST.

Ngày 27/9/2001, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án số 156/HSST.

Ngày 17/9/2003, bị Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án số 213/HSST.

Ngày 24/10/2006, bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án số 119/2006/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/9/2009, chấp hành xong án phí ngày 15/12/2006.

Ngày 09/11/2010, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án số 172/2010/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/12/2015, chấp hành xong án phí tháng 4/2011.

Ngày 22/5/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án số 47/2018/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2020, chấp hành xong án phí tháng 9/2019.

Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/02/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Trần Công C, sinh năm 1980; trú tại: Khu phố An Hòa, phường Hòa Lợi, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Lê Văn L, vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Đức H1, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 17/02/2021, anh Trần Công C là chủ tiệm cầm đồ Quang Hùng Phát ở cạnh đường NE8 thuộc khu phố An Hòa, phường Hòa Lợi thị xã Bến Cát từ phía sau tiệm đi lên thì thấy Lê Văn K đang ngồi trên chiếc xe mô tô hiệu Honda AirBladr biển số 61G1-596.09 của mình, dựng phía trong tiệm cách cửa ra vào khoảng 02 m, dắt xe ra ngoài. Anh C chạy theo ra đến đường NE8 thì thấy K rẽ phải khoảng 06 m thì dừng lại bên cạnh lề đường và dùng tay phải mở khóa xe. Anh C chạy đến đứng bên hông Ki thì K phát hiện anh C nên liền xuống xe bỏ chạy bộ. Lúc này, anh C truy hô và cùng với anh Lê Văn L đang uống cà phê ở gần đó, đuổi theo K một đoạn thì bắt giữ được K, cách chỗ xe mô tô biển số 61G1-596.09 khoảng 16 m. Cùng lúc này, lực lượng Công an phường Hòa Lợi đang đi tuần tra tới nên anh C giao K cho Công an phường Hòa Lợi xử lý.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda AirBladr màu đỏ - đen biển số 61G1-596.09 số máy:JF63E1517566, số khung: 630FZ163654 và 01 (một) USB màu đỏ hiệu Kingston dung lượng 08GB lưu trữ 01 đoạn hình ảnh camera giám sát ghi nhận đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Theo Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 24/02/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã Bến Cát, kết luận: 01(một) xe mô tô hiệu Honda AirBladr biển số 61G1-596.09 trị giá 22.000.000 đồng.

Ngày 15/3/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng giao trả cho anh Trần Công C: 01 xe mô tô hiệu Honda AirBladr biển số 61G1-596.09.

Theo Biên bản trích xuất dữ liệu hình ảnh camera thu giữ được của anh Lê Văn L, nhà cạnh bên nhà bị hại Trần Công C, xác định hình ảnh như sau: từ khoảng 21 giờ 07 phút đến 21 giờ 11 phút, K được 01 người đàn ông điều khiển xe mô tô chở đến dừng trước cửa tiệm cầm đồ Quang Hùng Phát, sau đó K đã một mình vào trong tiệm dắt xe mô tô hiệu Honda AirBladr biển số 61G1-596.09 ra đường NE8 thì bị anh C chạy theo ra đứng cạnh hông K thì K xuống xe bỏ chạy.

Quá trình điều tra, Lê Văn K khai: Khoảng 21 giờ ngày 17/02/2021, K đón xe ôm đi từ thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đến khu phố An Hòa, phường Hòa Lợi, thị xã Bến Cát thì xuống xe. K trả tiền xe ôm 100.000 đồng. Lúc này, K hết tiền nên đi vào tiệm cầm đồ Quang Hùng Phát để cầm cố nhưng không thấy có người nên K đi ra. Khi K đi ra được khoảng 10m thì bị một người đàn ông bắt giữ. K không thừa nhận hành vi lấy trộm xe mô tô hiệu Honda AirBladr biển số 61G1-596.09. Tuy nhiên, qua lời khai của bị hại Trần Công C, người làm chứng Lê Văn L và qua hình ảnh trích xuất từ camera thu giữ được đã có đủ cơ sở khẳng định Lê Văn K là người thực hiện hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô hiệu Honda AirBladr biển số 61G1-596.09 của anh Trần Công C.

Tại bản Cáo trạng số 148/CT-VKSBC ngày 30 tháng 7 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Văn K về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Văn K về tội “trộm cắp tài sản”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Văn K mức án từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, bị cáo cho rằng vào khoảng 21 giờ ngày 17/02/2021, bị cáo đón xe ôm đi từ thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đến khu phố An Hòa, phường Hòa Lợi, thị xã Bến Cát thì xuống xe. Lúc này, bị cáo hết tiền, không có tiền trả xe ôm nên bị cáo đi vào tiệm cầm đồ Quang Hùng Phát để cầm cố nhưng không thấy có người nên bị cáo đi ra. Khi bị cáo đi ra được khoảng 10m thì bị một người đàn ông bắt giữ. Bị cáo không thừa nhận hành vi lấy trộm xe mô tô hiệu Honda AirBladr biển số 61G1-596.09.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.

Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Tuy nhiên căn cứ vào lời khai của của bị hại, người làm chứng, Biên bản trích xuất dữ liệu hình ảnh số 296/BB-PC09 ngày 16/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương cùng với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 17/02/2021, tại tiệm cầm đồ Quang Hùng Phát cạnh đường NE8, khu phố An Hòa, phường Hòa Lợi thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Lê Văn K đã có hành vi lén lút lấy trộm chiếc xe mô tô hiệu Honda AirBladr biển số 61G1-596.09 của bị hại Trần Công C ngồi trên xe điều khiển chạy ra đường khoảng 6m đang định mở khóa thì bị phát hiện bắt quả tang.

Xét bị cáo Lê Văn K là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng vì động cơ tư lợi, bản chất tham lam, lười lao động, muốn có tiền để tiêu xài mà không phải tốn công sức lao động nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả, thể hiện ý thức liều lĩnh và xem thường pháp luật. Sau khi phạm tội bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội trộm cắp mà quanh co chối tội.

Tài sản bị cáo trộm là 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda AirBladr biển số 61G1-596.09 trị giá 22.000.000 đồng, trước đó bị cáo có 06 tiền án về tội trộm cắp tài sản, hành vi của bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội lần này do cố ý nên bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, bản Cáo trạng số 148/CT-VKSBC ngày 30 tháng 7 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Lê Văn K về tội: “trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo quanh co chối tội, không nhận hành vi phạm tội do đó bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda AirBladr màu đỏ - đen biển số 61G1-596.09 số máy: JF63E1517566, số khung: 630FZ163654 là tài sản hợp pháp của bị hại Trần Công C nên Cơ quan Cảnh sát điều đã giao trả tài sản trên cho ông C là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, điều khoản áp dụng, tình tiết tăng nặng giảm nh trách nhiệm hình sự và xử lý vật chứng đối với bị cáo phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào các Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268; Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và mức hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội: “trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn K 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/02/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Văn K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án./.

Cỡ chữ