- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc D và Nguyễn Văn Th phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Trần Quốc D và bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG-THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 186/2021/HS-ST Ngày: 05/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Bình
Bà Nguyễn Thị Minh Trâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Trung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 164/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2021/QĐXXST-HS ngày 26/10/2021 đối với các bị cáo:
1. Trần Quốc D, sinh ngày 19/4/1998 tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Khu phố 7, phường M, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Trình độ văn hóa 7/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần T và bà Nguyễn Thị H; Vợ: Lê Thị Thuý H (đã ly hôn) và 01 người con. Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 29/8/2012, bị Công an phường Mỹ Đông, TP. Phan Rang – Tháp Chàm, xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 26/02/2013, bị Uỷ ban nhân dân phường Mỹ Đông, TP. Phan Rang – Tháp Chàm quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường thị trấn, thời hạn 06 tháng.
- Ngày 13/3/2014, bị Công an phường Đông Hải, TP. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Đánh nhau”.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/8/2021, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an TP. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
2. Trần Văn T, sinh ngày 04/11/1999 tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Khu phố 6, phường K, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Trình độ văn hóa 5/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Th và bà Lê Thị Th; Vợ, con: chưa có. Tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 14/6/2021, bị Công an phường Kinh Dinh, TP. Phan Rang – Tháp Chàm ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Nhân thân:
- Ngày 12/7/2017, bị Công an TP. Phan Rang – Tháp Chàm ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, số tiền 375.000 đồng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Ngày 20/6/2021, bị Công an phường Kinh Dinh, TP. Phan Rang – Tháp Chàm xử phạt vi phạm hành chính, số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/8/2021, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an TP. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1989.
Nơi cư trú: Khu phố 8, phường T, TP. P, tỉnh Ninh Thuận (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 19/6/2021, Trần Quốc D, Trần Văn T và anh Nguyễn Văn T (sinh năm 1987, ở thôn An Thạnh 2, xã An Hải, huyện Ninh Phước) uống cà phê tại khu phố 2, phường Tấn Tài, thành phố Phan Rang Tháp Chàm thì D hỏi mượn xe mô tô hiệu Luvias, màu đỏ đen, biển số 85D1 - 339.01 của anh T để đẩy 01 xe mô tô khác đi đổ xăng, anh Tiếng đồng ý. Sau khi mượn được xe, D rủ Th đi gặp bạn để lấy tiền rồi đi về nhà của D ở khu phố 7, phường Mỹ Đông, thành phố Phan Rang-Tháp Chàm để xin tiền mẹ. Khi đi ngang qua nhà chị Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1989, ở số 38/16/23 đường Nguyễn Thái Bình, khu phố 8, phường Tấn Tài, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, D nhìn thấy cửa cổng mở, trong sân nhà có 01 bao tỏi, không có người trong coi nên nảy sinh ý định trộm cắp rồi rủ Th cùng trộm cắp bao tỏi trên để bán lấy tiền tiêu xài, Th đồng ý. D dựng xe mô tô trước nhà, rồi cùng với Th đi vào trong sân, khiêng bao tỏi đặt lên xe mô tô, D điều khiển chở Th ngồi sau giữ bao tỏi, đi được một đoạn thì bị ngã xe. Lúc này, chị D đang ngủ trong nhà, nghe tiếng động bên ngoài nên thức giấc, phát hiện mất bao tỏi, chị D cùng với một số người dân xung quanh tìm kiếm thì thấy D, Th cùng bao tỏi nên giữ lại và trình báo với Cơ quan Công an. Tại Cơ quan điều tra, Trần Quốc D và Trần Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bản kết luận định giá tài sản số 51/KLTS ngày 03/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP. Phan Rang – Tháp Chàm kết luận: 71kg tỏi khô, loại tỏi Mỹ Tường, tại thời điểm bị mất trộm vào ngày 19/6/2021 có giá trị là 4.260.000 đồng (Bốn triệu hai trăm sáu mươi ngàn đồng).
Các bị cáo, người bị hại không có ý kiến gì đối với kết luận định giá nêu trên. Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án đã nêu.
Bản cáo trạng số 167/CT-VKSPRTC ngày 07/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm, truy tố bị cáo Trần Quốc D và Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Quốc D và Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Quốc D và bị cáo Trần Văn T mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Các bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an TP. Phan Rang – Tháp Chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 19/6/2021, tại nhà chị Nguyễn Thị Kim D thuộc khu phố 8, phường Tấn Tài, TP. Phan Rang – Tháp Chàm bị cáo Trần Quốc D và bị cáo Trần Văn T có hành vi lén lút trộm cắp 01 bao tỏi khô, nặng 71kg của chị Nguyễn Thị Kim D trị giá 4.260.000 đồng. Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm truy tố bị cáo Trần Quốc D và bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng do mục đích tư lợi nên vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên cần có hình phạt tương xứng đối với hành vi của các bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành, để có cơ sở lượng hình chính xác, phù hợp cần thiết phải đánh giá vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với từng bị cáo, cụ thể như sau:
Bị cáo Trần Quốc D là người khởi xướng và rủ rê bị cáo Trần Văn T thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo Th. Bị cáo Trần Quốc D có nhân thân xấu, đã ba lần bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: Tài sản ngay sau khi các bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đây là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Trần Văn T sau khi tiếp nhận khởi xướng của bị cáo Trần Quốc D đã đồng ý và tham gia thực hiện tội phạm rất tích cực. Bị cáo Th có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, có nhân thân xấu, đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: Tài sản ngay sau khi các bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo đây là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hiện nay, ngoài việc bị truy tố trong vụ án này bị cáo Trần Quốc D và Trần Văn T còn đang bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước truy tố về hành vi “Trộm cắp tài sản” xảy ra trên địa bàn huyện Ninh Phước ngày 17/6/2021, trước ngày xảy ra vụ án đang bị xét xử 02 ngày nên theo tinh thần hướng dẫn tại mục 4 phần I Giải đáp nghiệp vụ số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Toà án nhân dân tối cao các bị cáo không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Đối với anh Nguyễn Văn T, khi cho D mượn xe mô tô biển số 85D1-339.01 không biết D sử dụng để phạm tội nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý đối với anh Tiếng là phù hợp.
Về xử lý vật chứng
Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả 01 bao tỏi 71kg cho chị Nguyễn Thị Kim D; trả 01 xe mô tô hiệu Luvias, màu đỏ đen, biển số 85D1-339.01 cho chị Phạm Thị Ngọc L là những người chủ sở hữu của tài sản là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Nguyễn Thị Kim D đã nhận lại là tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Quốc D và bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc D 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/8/2021.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/8/2021.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Quốc D và bị cáo Trần Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 05/11/2021. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể ngày bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND TP. PR-TC; - Công an TP. PR-TC; - Chi cục THADS TP. PR-TC; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - Các bị cáo; Người bị hại; - Lưu án văn, hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Hùng |