vanban.org

Bản án 186/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 25/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sĩ Q phạm tội “Đưa hối lộ”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Sĩ Q 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng). Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 3.010.000 đồng. Trong đó, có 06 tờ 500.000 đồng và 10.000 đồng. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/11/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyên Sĩ Q phạm tội đưa hối lộ - phạm tội đưa hối lộ (điều 289 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sĩ Q phạm tội “Đưa hối lộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU,
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 186/2021/HS-ST
Ngày: 25-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thanh Quốc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Minh Bền

Ông Huỳnh Hoàng Khởi

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Chưởng, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đắc Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 204/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 621/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Sĩ Q, sinh ngày 07/10/1990; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp T, xã R, huyện P, tỉnh C; chỗ ở: ấp T, xã R, huyện P, tỉnh C; nghề nghiệp: Chuyên viên Ngân hàng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Sĩ Th và bà Vũ Thị V; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/7/2021 đến nay. (Bị cáo có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hồ Văn H, sinh năm: 1981.

Nơi cư trú: Khóm 5, phường 5, thành phố C, tỉnh C (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Quyết định số 21/QĐ-CAT-PV01 ngày 24/4/2020 về việc thành lập tổ tuần tra kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự vào ban đêm (gọi tắt là tổ 21) và Kế hoạch số 29/KH CAT-PV01 ngày 24/4/2020 về việc Tuần tra kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự vào ban đêm của Công an tỉnh Cà Mau.

Khoảng 23 giờ ngày 05/02/2021, Tổ 21 đang đóng chốt tuần tra trên đường Trần Văn Thời, thuộc khóm 4, phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau thì phát hiện bị cáo Nguyễn Sĩ Q có biểu hiện sử dụng rượu bia, đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 69M1-063.28 nên lực lượng thuộc Tổ 21 cử Quách Minh Th và Nguyễn Nhật Q sử dụng xe máy chuyên dụng chạy theo bị cáo ra hiệu lệnh dừng phương tiện. Sau khi dừng phương tiện, bị cáo xuất trình giấy phép lái xe, giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. Do bị cáo có biểu hiện sử dụng rượu bia nên lực lượng làm nhiệm vụ mời bị cáo về vị trí tổ công tác đang đóng chốt để kiểm tra nồng độ cồn. Trên đường quay lại chốt, bị cáo lấy tiền trong ví nhét vào túi quần phía bên phải của đồng chí Nhật Q nhằm mục đích lực lượng làm nhiệm vụ bỏ qua lỗi vi phạm, không đo nồng độ cồn nhưng đồng chí Nhật Q không nhận và nhắc nhở bị cáo không đưa tiền cho lực lượng làm nhiệm vụ.

Khi bị cáo đến vị trí Tổ 21 làm việc, đồng chí Hồ Văn H tiến hành đo nồng độ cồn đối với bị cáo, kết quả là 0,869mlg/1 lít khí thở, ngay lúc này bị cáo tiếp tục nhét tiền vào túi quần của đồng chí H để được bỏ qua vi phạm nồng độ cồn nhưng không được chấp nhận và bị lập biên bản về việc đưa hối lộ, tạm giữ tang vật và lập biên bản vi phạm hành chính về việc điều khiển xe mô tô mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt mức quy định. Qua kiểm tra, số tiền bị cáo đưa cho lực lượng làm nhiệm vụ là 3.010.000 đồng.

Tang vật thu giữ gồm 06 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng có số sê ri: NK16806505; UI5475313; MM16754115; HT 10032847; FD 15012849; MS 14845365 và 01 tờ mệnh giá 10.000 đồng có số sê ri RC 08666078. 01 xe mô tô biểm kiểm soát 69M1 – 063.28. 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 008248. 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Sĩ Q.

Tại bản Cáo trạng số: 198/CT-VKS, ngày 01 tháng 11 năm 2021, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố bị cáo Nguyễn Sĩ Q về tội “Đưa hối lộ” theo điểm a khoản 1 Điều 364 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và có bổ sung: Trong quá trình công tác, bị cáo được Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP LV tăng danh hiệu Lao động xuất sắc năm 2019 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp điểm a khoản 1 Điều 364; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố Nguyễn Sĩ Q phạm tội “Đưa hối lộ”, xử phạt bị cáo từ 03 tháng đến 05 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 3.010.000 đồng. Trong đó, có 06 tờ 500.000 đồng và 10.000 đồng. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/11/2021.

Đối với vi phạm điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 69M1-063.28 trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồng 0,869mlg/1 lít khí thở đã bị xử phạt vi phạm hành chính và tước giấy phép lái xe 23 tháng là phù hợp nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

- Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và phạt tiền cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, từ đó có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 23 giờ ngày 05/02/2021, tại khóm 4, phường 6, thành phố Cà Mau, bị cáo Nguyễn Sĩ Q đã thực hiện hành vi đưa số tiền 3.010.000 đồng cho đồng chí Hồ Văn Hài - Thành viên Tổ tuần tra, kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự vào ban đêm Công an tỉnh Cà Mau nhằm mục đích bỏ qua lỗi vi phạm thì bị lập biên bản cùng tang vật.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của lực lượng đang làm nhiệm vụ. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Đưa hối lộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 364 Bộ luật Hình sự, đúng như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ông nội của bị cáo là ông Nguyễn Sỹ Tr được tặng huân chương kháng chiến hạng nhất. Bị cáo được Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP LV tăng danh hiệu Lao động xuất sắc năm 2019. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Với tính chất, mức độ hành vi bị cáo gây ra cùng với nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích, việc áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ thể hiện được tính răn đe của pháp luật đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

Đối với vi phạm điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 69M1-063.28 trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồng 0,869mlg/1 lít khí thở đã bị xử phạt vi phạm hành chính và tước giấy phép lái xe 23 tháng là phù hợp nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 3.010.000 đồng. Trong đó, có 06 tờ 500.000 đồng và 10.000 đồng. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/11/2021.

Về thủ tục tố tụng: Anh Hồ Văn H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 364; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sĩ Q phạm tội “Đưa hối lộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Sĩ Q 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 3.010.000 đồng. Trong đó, có 06 tờ 500.000 đồng và 10.000 đồng. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/11/2021.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ