vanban.org

Bản án 186/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 16/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nguyễn Văn U – sinh năm 1979

Phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” Xử phạt: Nguyễn Văn U 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 24 (Hai tư) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về UBND Thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương giám s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả…"
  • Tòa quyết gì? Nguyễn Văn U – sinh năm 1979
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 186/2021/HS-ST
Ngày: 16/7/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hải

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Văn Minh

2. Bà Lê Thị Thu Hạnh

Thư ký phiên toà:Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 208/2021/HSST ngày 25/6/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 208/2021/QĐXXST - HS ngày 02/7/2021 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN U, sinh năm 1979; ĐKHKTT và ở tại: Thôn T, Thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hoá: 02/12; con ông Nguyễn Văn Ng; con bà Đỗ Thị G; Vợ là: Nguyễn Thị H; Có 02 con (lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2010); Danh chỉ bản: 000000216, lập ngày 29/4/2021, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty CPSX &TM Đ - Trụ sở: số 28 phố V, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương - Đại diện: anh Đỗ Văn L, sinh năm 1978 - Giám đốc. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13h50’ ngày 06/09/2020, tổ công tác Đội CSGT số 14 thuộc Phòng CSGT - Công an TP Hà Nội làm nhiệm vụ tại nút giao đường Ngọc Hồi - Phan Trọng Tuệ phát hiện Nguyễn Văn U điều khiển xe ôtô tải đông lạnh nhãn hiệu Hyundai, BKS: 34C-034.46 vi phạm giao thông với lỗi “Không chấp hành hiệu lệnh của biển báo hiệu” tại ngã ba Ngọc Hồi - Phan Trọng Tuệ thuộc địa phận thị trấn V, T, Hà Nội nên tổ công tác đã dừng xe để kiểm tra. Tại chỗ, U đã xuất trình 01 Giấy phép lái xe hạng E - Số 300148055118 do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp ngày 15/10/2019 mang tên Nguyễn Văn U cho lực lượng Cảnh sát giao thông. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện giấy phép lái xe do U xuất trình là giả nên đã tiến hành lập biên bản, tạm giữ giấy phép lái xe và đưa U đến trụ sở Công an thị trấn V để giải quyết. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của U: 01 chiếc xe ôtô tải đông lạnh nhãn hiệu Huyndai, BKS: 34C-034.46; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số 2844653; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ôtô số 0063393; 01 giấy biên nhận thế chấp của Ngân hàng TCMP Đ - Chi nhánh Thành Đông đề ngày 10/07/2020.

Ngày 07/09/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an T ra Quyết định trưng cầu giám định đối với Giấy phép lái xe hạng E của Nguyễn Văn U.

Tại Kết luận giám định số 8316/KLGĐ-PC09-Đ4 ngày 22/09/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội, kết luận: “Giấy phép lái xe” Hạng E; Số: 300148055118; Họ tên: Nguyễn Văn U; Ngày sinh: 01/9/1979; Nơi cư trú: xã L, Huyện C, T. Hải Dương; Cấp ngày: 15/10/2019 là Giấy phép lái xe giả.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn U khai nhận: Do chỉ học hết lớp 2/12, sợ tham gia thi lấy giấy phép lái xe ô tô không đỗ nên U đã không đăng ký học và thi lấy giấy phép lái xe. Vì có nhu cầu sử dụng giấy phép lái xe để xuất trình cho cơ quan chức năng khi bị kiểm tra, tránh bị xử phạt hành chính nên khoảng tháng 8/2020, U mua một chiếc điện thoại di động Samsung cũ và một sim điện thoại không đăng ký. Sau đó, U đã hỏi một người bạn và truy cập vào trang “Google.com” để tìm kiếm người làm giấy phép lái xe ôtô giả. Sau khi truy cập, U thấy nội dung quảng cáo “Nhận làm giấy phép lái xe” nên đã sử dụng điện thoại để liên hệ, trao đổi và thống nhất về việc làm giả giấy phép lái xe hạng E với giá 1.000.000 đồng. Theo hướng dẫn, U gửi ảnh (3x4) và thông tin cá nhân của U cho người làm giả giấy phép lái xe thông qua ứng dụng “Zalo”. Khoảng một tuần sau, U nhận được giấy phép lái xe giả và thanh toán số tiền 1.000.000 đồng cho người giao hàng. U kiểm tra và thấy giấy phép lái xe giả có đặc điểm giống như giấy phép lái xe thật, trên giấy phép lái xe giả có ghi: “GIẤY PHÉP LÁI XE; Số: 300148055118; Hạng E; Họ tên: Nguyễn Văn U; Ngày sinh: 01/09/1979; Quốc tịch: Việt Nam; Nơi cư trú: xã L, Huyện C, T. Hải Dương; Cấp ngày: 15/10/2019, in dấu Sở Giao thông vận tải tỉnh Hải Dương và chữ ký Giám đốc Lê Quý T”.

Trưa ngày 06/09/2020, anh Đỗ Văn L là chủ xe ô tô do ăn trưa và uống rượu với bạn nên đã nhờ U điều khiển xe ôtô tải đông lạnh nhãn hiệu Hyundai, BKS: 34C-034.46 từ Hà Đông, Hà Nội về Hải Dương trước. Sau khi nhận được xe, U điều khiển xe lưu thông trên đường Phan Trọng Tuệ để về Hải Dương, khi đi đến nút giao đường Ngọc Hồi - Phan Trọng Tuệ thì bị cơ quan công an kiểm tra như trên. Khi giao xe cho U, anh L không biết việc U sử dụng giấy phép lái xe giả.

Lời khai của Nguyễn Văn U phù hợp với lời khai của anh Đỗ Văn L và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Đối với những người giúp U tìm kiếm trang mạng, làm giấy phép lái xe giả và giao giấy phép lái xe giả, U khai không biết tên và địa chỉ. Ngoài ra, U không cung cấp được thêm tài liệu gì đối với việc đặt làm giấy phép lái xe giả do U đã vứt chiếc điện thoại, bên trong chứa sim số điện thoại dùng để tra cứu và liên lạc với người làm giấy phép lái xe giả, U không nhớ vị trí vứt nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Do chưa xác định được những đối tượng trên nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách phần hồ sơ liên quan để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ.

Đối với hành vi điều khiển xe ôtô tải BKS: 34C-034.46 tham gia giao thông đường bộ vi phạm lỗi “Không chấp hành hiệu lệnh của biển báo hiệu” của U, Cơ quan điều tra đã đề nghị Phòng CSGT - Công an TP Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đối với U.

Đối với chiếc xe ôtô tải đông lạnh nhãn hiệu Huyndai, BKS: 34C-034.46; giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số 2844653; giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ôtô số 0063393; giấy biên nhận thế chấp của Ngân hàng TCMP Đ - Chi nhánh Thành Đông, là tài sản của Công ty CPSX &TM Đ, đại diện là anh Đỗ Văn L - Giám đốc. Khi anh L giao xe cho U điều khiển, anh L không biết U sử dụng giấy phép lái xe giả nên Cơ quan điều tra không xử lý và trả lại chiếc xe ôtô, giấy tờ nêu trên cho anh L. Anh L nhận lại tài sản, giấy tờ và không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 100/CT-VKS-TT ngày 18/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố Nguyễn Văn U phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố, thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn U theo tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản Cáo trạng số 100/CT-VKS-TT ngày 18/6/2021 và đề nghị áp dụng khoản 1 điều 341; điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 06 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách từ 12 tháng đến 24 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 4 điều 341 Bộ luật hình sự. Vật chứng đã trả người liên quan. Người liên quan không yêu cầu gì nên không xét. Tịch thu tiêu hủy giấy phép lái xe giả thu giữ của U.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận:

Khoảng tháng 8/2020, Nguyễn Văn U đã thỏa thuận, thống nhất và cung cấp thông tin cá nhân, ảnh 3x4 thông qua mạng xã hội cho đối tượng không quen biết để làm giả Giấy phép lái xe hạng E mang tên U. Mục đích để xuất trình cho cơ quan chức năng khi điều khiển ô tô tham gia giao thông. Hồi 13h50’ ngày 06/09/2020, Nguyễn Văn U điều khiển xe ôtô tải đông lạnh nhãn hiệu Hyundai, BKS: 34C-034.46 vi phạm giao thông với lỗi “Không chấp hành hiệu lệnh của biển báo hiệu” tại ngã ba Ngọc Hồi - Phan Trọng Tuệ thuộc thị trấn V, huyện T, Hà Nội nên đã bị tổ công tác Đội CSGT số 14 - Phòng CSGT - Công an TP Hà Nội dừng xe để kiểm tra. Tại chỗ, U đã xuất trình Giấy phép lái xe giả nêu trên thì bị cơ quan công an phát hiện, thu giữ tang vật. U cũng không cung cấp được thông tin về nhân thân, lai lịch người giúp sức, làm giả giấy phép lái xe, giao giấy phép lái xe giả cho U.

Hành vi của Nguyễn Văn U đã phạm vào tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 điều 341 Bộ luật hình sự.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Trách nhiệm hình sự và hình phạt: Với sự tuyên truyền rộng rãi trên mọi loại hình truyền thông về Luật giao thông đường bộ, bị cáo đã có đủ năng lực, nhận thức để biết việc điều khiển ô tô tham gia giao thông bắt buộc phải có giấy phép lái xe theo quy định. Nhưng xuất phát từ ý thức đối phó với cơ quan chức năng khi tham gia giao thông, bị cáo đã làm giả giấy phép lái xe để sử dụng cho bản thân. Khi điều khiển ô tô vi phạm luật giao thông đường bộ, bị cơ quan chức năng kiểm tra, bị cáo đã xuất trình giấy phép lái xe giả để nhằm trốn tránh bị xử lý theo quy định. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi chủ quan, cố ý, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, coi thường trật tự an toàn xã hội. Do vậy, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục và đáp ứng công tác răn đe phòng ngừa chung. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét đến mục đích phạm tội của bị cáo là để sử dụng cho bản thân, nhận thức đơn giản do trình độ học vấn hạn chế, có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 điều 51 mà bị cáo được hưởng để giảm nhẹ một phần hình phạt. Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại điều 51 Bộ luật hình sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo, chịu thời hạn thử thách, giao về chính quyền địa phương nơi đăng ký hộ khẩu giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Xét bị cáo là lao động tự do, phạm tội không mang tính thu lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 4 điều 341 Bộ luật hình sự.

Tang vật vụ án và án phí: Chiếc xe ô tô và các giấy tờ liên quan đã trả lại Công ty Đ. Người đại diện công ty đã nhận lại toàn bộ tài sản, giấy tờ và không có yêu cầu gì nên không xét. Giấy phép lái xe giả mang tên Nguyễn Văn U cho tịch thu tiêu hủy. Bị cáo phải nộp án phí hình sự. Bị cáo, người liên quan được quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Nguyễn Văn U – sinh năm 1979

Phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”

Căn cứ: khoản 1 điều 341; điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn U 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 24 (Hai tư) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về UBND Thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn U thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Văn U cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Văn U phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; điều 136; điều 331; điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 21; điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án và danh mục kèm theo của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội khóa 14.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 Giấy phép lái xe giả, Số: 300148055118; Hạng E; Họ tên: Nguyễn Văn U; Ngày sinh: 01/09/1979; Quốc tịch: Việt Nam; Nơi cư trú: X. L. H.C, T. Hải Dương; Cấp ngày: 15/10/2019, in dấu Sở Giao thông vận tải tỉnh Hải Dương và chữ ký Giám đốc Lê Quý T”, hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/7/2021.

Bị cáo Nguyễn Văn U phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đại diện theo pháp luật Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Đ được quyền kháng cáo phần liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ