vanban.org

Bản án 186/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 25/11/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh P và người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án Lê Minh T; giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 212/2019/HS-ST ngày 11/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã T tỉnh Bình Dương.

Áp d ng điểm i khoản 1 Điều 250; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015; Xử ph t bị cáo Nguyễn Thị Thanh P 03 (ba) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời h n … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thanh P - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh P và người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án Lê Minh T; giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 212/2019/HS-ST ngày 11/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã T tỉnh Bình Dương.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 186/2019/HS-PT
Ngày: 25-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Văn Chum;

- Các Thẩm phán:

Ông Lê Quân Vương;

Ông Nguyễn Huỳnh Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2019 t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số 193/2019/TLPT-HS ngày 18/10/2019. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh P và người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án ông Lê Minh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 212/2019/HS-ST ngày 11/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị Thanh P sinh năm 1991 t i tỉnh H; nơi cư trú: QL 56 ấp T, xã X thị xã L tỉnh Đ; t m trú: Số 35A, khu phố T phường H thị xã D tỉnh Bình Dương; nghề nghi p: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Nguyễn Văn H sinh năm 1958 và bà Đinh Thị P sinh năm 1963; tiền án; tiền sự: Không. Bị bắt t m giam ngày 03/4/2019 đến ngày 12/4/2019 được thay thế bi n pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo t i ngo i có mặt t i phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Văn T sinh năm 1986; địa chỉ: Số 549/85/30 đường L Phường 14 quận G Thành phố Hồ Chí Minh có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có kháng cáo: Ông Lê Minh T sinh năm 1989; HKTT: Số 677/16 đường Ph m Văn H, Phường 3 quận T Thành phố Hồ Chí Minh; t m trú: Số 35A, khu phố T phường H thị xã D tỉnh Bình Dương có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Minh T: Ông Trần Văn T sinh năm 1986; địa chỉ: Số 549/85/30 đường L Phường 14 quận G Thành phố Hồ Chí Minh có mặt.

Trong v án còn có 01 người có quyền lợi nghĩa v liên quan do không có kháng cáo không bị kháng nghị nên Tòa án không tri u tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 03/4/2019 trong lúc Nguyễn Thị Thanh P đang làm nhân viên ph c v bàn t i quán Club D1 thuộc khu phố Đ phường B thị xã T, tỉnh Bình Dương thì nhận được tin nhắn của một đối tượng tên thường gọi là Tino (chưa rõ nhân thân lai lịch) có nội dung: “ Chị lấy dùm em 02 kẹo và 02 chấm”. P hiểu ý của Tino nên đến gặp một đối tượng tên thường gọi là Pon (chưa rõ nhân thân lai lịch) là nhân viên bảo v của quán Club D1 để nhận số ma túy trên nếu sau khi giao xong số ma túy trên cho Tino thì P sẽ được cho số tiền công là 120.000 đồng. Đến khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày, P đi ra cổng và được b n trai tên Lê Minh T chờ đón về bằng xe môtô Honda Air Blade biển số 60B2-343.73. Khi T vừa điều khiển xe ra khỏi cổng quán được khoảng 20 mét thị bị Đội cảnh sát điều tra tội ph m về ma túy Công an thị xã T kết hợp cùng Công an phường B tuần tra kiểm soát an ninh trật tự trên địa bàn phường B thì phát hi n, thấy có dấu hi u nghi vấn nên yêu cầu cả hai dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T phát hi n bắt quả tang người ngồi sau tên Nguyễn Thị Thanh P đang cầm trên tay trái 01 (một) gói thuốc lá hi u 555 bên trong có 02 (hai) viên nén hình tam giác màu vàng có logo EA7 và 02 (hai) túi nylon mi ng kéo dính bên trong có chứa tinh thể màu trắng và P khai nhận đều là ma túy tổng hợp. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T lập biên bản bắt người ph m tội quả tang P cùng tang vật để điều tra xử lý.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) gói thuốc lá hi u 555 bên trong có 02 (hai) viên nén hình tam giác màu vàng có logo EA7 và 02 (hai) túi nylon mi ng kéo dính bên trong có chứa tinh thể màu trắng 01 (một) chiếc đi n tho i di động hi u Iphone 7 màu trắng 01 (một) chiếc xe môtô Honda Air Blade màu đen biển số 60B2-343.73.

Theo Kết luận giám định số 285/MT-PC09 ngày 11/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận:

+ Mẫu viên nén gửi giám định là ma túy có khối lượng: 0 7775 gam (M1) lo i MDMA.

+ Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy có khối lượng: 0 7347 gam (M2) lo i Ketamine.

T i Bản án hình sự sơ thẩm số 212/2019/HS-ST ngày 11/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã T tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Áp d ng điểm i khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh P ph m tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Xử ph t: Nguyễn Thị Thanh P 03 (ba) năm tù thời h n tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian t m giam từ ngày 03/4/2019 đến ngày 12/4/2019.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/9/2019 bị cáo kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án phúc thẩm xem xét l i toàn bộ nội dung v án đồng thời yêu cầu xem xét l i phần xử lý vật chứng là xe môtô nhãn hi u Honda Air Blade màu đen biển số 60B2-343.73 bị cáo cho rằng đây không phải là phương ti n ph m tội yêu cầu xem xét trả l i xe cho bị cáo (đơn kháng cáo trong thời h n luật định).

Ngày 20/9/2019 người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án Lê Minh T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm yêu cầu xem xét trả l i xe môtô nhãn hi u Honda Air Blade màu đen biển số 60B2-343.73 cho T vì xe này không phải là phương ti n ph m tội (đơn kháng cáo trong thời h n luật định).

Đ i di n Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết v án: Về thời h n kháng cáo đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh P và người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án Lê Minh T đúng theo thời h n luật định nên Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa v án ra xem xét theo thủ t c phúc thẩm là đúng thẩm quyền và quy định của pháp luật.

Về nội dung: Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thanh P nhận ma túy từ đối tượng tên Pon (không rõ nhân thân lai lịch) để đưa bán cho đối tượng tên Tino để hư ng tiền công nhưng đang trên đường vận chuyển thì bị Công an phát hi n bắt giữ. Hành vi này của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định t i khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, Tòa án cấp sơ thẩm xác định tội danh và xét xử bị cáo về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định t i điểm i khoản 1 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là chưa chính xác. Tuy nhiên, Tòa án sơ thẩm áp d ng mức hình ph t 03 năm tù là phù hợp và tương đương với mức án được quy định t i điều khoản của tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do đó, không có cơ s chấp nhận kháng cáo xin được hư ng án treo của bị cáo nhưng cần sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 212/2019/HS-ST ngày 11/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã T tỉnh Bình Dương để xác định l i tội danh của bị cáo.

Đối với xe môtô nhãn hi u Honda Air Blade màu đen biển số 60B2-343.73: Do bị cáo và người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án có lời khai mâu thuẫn với nhau t i BL số 87, 90, 109; lời khai ban đầu của bị cáo và T đều khai là xe do bị cáo mua và bị cáo là người đứng tên đăng ký chủ s hữu, sau đó T thay đổi lời khai xe là do T mua nhưng không có giấy tờ chứng minh. T i thời điểm bị bắt, T là người điều khiển xe, bị cáo đang cất giữ ma túy để bán cho người khác nhưng vẫn để cho T lấy xe ch bị cáo nên xe này là phương ti n ph m tội. Do đó không có cơ s xem xét trả l i xe mô tô cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo đồng thời là người bảo v quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Minh T trình bày quan điểm tranh luận: Không tranh luận với tội danh mà đ i di n Vi n kiểm sát vừa phát biểu đối với hành vi ph m tội của bị cáo thì Hội đồng xét xử sơ thẩm chưa xem xét toàn di n nội dung v án. C thể qua phần xét hỏi t i phiên tòa phúc thẩm thì bị cáo trình bày không biết Pon đưa hộp thuốc 555 cho bị cáo là chất ma túy đến khi qua bị Công an phát hi n bắt giữ thì bị cáo mới biết. Bị cáo có 3 tình tiết giảm nhẹ là: Bị cáo ph m tội nhưng chưa gây thi t h i; bị cáo ph m tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét hành vi của bị cáo không nguy hiểm cho xã hội nên không cần thiết áp d ng hình ph t tù đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hư ng án treo. Đối với xe môtô nhãn hi u Honda Air Blade màu đen biển số 60B2-343.73 tuy xe là do bị cáo đứng tên đăng ký chủ s hữu, t i thời điểm xảy ra sự vi c T là người trực tiếp điều khiển xe, bị cáo không phải là người trực tiếp điều khiển bị cáo không báo cho T biết là bị cáo đang thực hi n hành vi giao ma túy nên xe này không phải là phương ti n ph m tội đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được nhận l i xe.

T i phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Thanh P đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội đồng thời rút l i một phần yêu cầu kháng cáo là chỉ xem xét cho bị cáo được hư ng án treo và xem xét trả l i xe môtô nhãn hi u Honda Air Blade màu đen biển số 60B2-343.73 cho bị cáo; người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án Lê Minh T thay đổi yêu cầu kháng cáo yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét trả l i xe môtô nhãn hi u Honda Air Blade màu đen biển số 60B2-343.73 cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

T i phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị Thanh P đã khai nhận hành vi ph m tội phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra bản cáo tr ng và t i phiên tòa sơ thẩm như sau:

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 03/4/2019 trong lúc bị cáo đang làm nhân viên ph c v bàn t i quán Club D1 thuộc khu phố Đ phường B thị xã T tỉnh Bình Dương thì nhận được tin nhắn của một đối tượng tên là Tino (chưa rõ nhân thân, lai lịch) có nội dung: “Chị lấy dùm em 02 kẹo và 02 chấm”. Bị cáo hiểu ý của Tino nên đến gặp một đối tượng tên là Pon (chưa rõ nhân thân lai lịch) để nhận số ma túy trên nếu giao xong số ma túy này cho Tino thì bị cáo sẽ được Pon cho số tiền công là 120.000 đồng. Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 03/4/2019 t i đo n đường cách quán Club D1 khoảng 20 mét, bị cáo đang thực hi n hành vi vận chuyển trái phép hai chất ma túy gồm 0 7775 gam lo i MDMA và 0 7347 gam lo i Ketamine theo yêu cầu của hai đối tượng tên Tino và Pon (chưa xác định nhân thân lai lịch) thì bị phát hi n và bắt giữ. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm xử ph t bị cáo Nguyễn Thị Thanh P về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định t i điểm i khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) là đúng người đúng tội đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm ph m đến chế độ quản lý các chất gây nghi n của nhà nước. Về nhận thức bị cáo biết ma túy (MDMA và Ketamine) là chất gây nghi n nguy hiểm do nhà nước độc quyền và thống nhất quản lý hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy của bị cáo đe dọa nghiêm trọng đến an toàn trật tự công cộng sức khỏe và sự phát triển lành m nh của xã hội là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tội ph m hình sự khác. Bị cáo nhận thức được tác h i của ma túy nhưng vì động cơ tham lam tư lợi mà bất chấp pháp luật cố ý thực hi n hành vi ph m tội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhi m hình sự về hành vi ph m tội của mình theo quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo về vi c xin được hư ng án treo: Hội đồng xét xử xét thấy khi quyết định hình ph t đối với bị cáo Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhi m hình sự và áp d ng mức hình ph t 03 (ba) năm tù đối với bị cáo là phù hợp tương xứng với hành vi mức độ ph m tội của bị cáo. Đối với xe môtô Air Blade màu đen biển số 60B2-343.73. Quá trình điều tra xác định xe này do bị cáo đứng tên đăng ký chủ s hữu và bị cáo đã sử d ng xe này làm phương ti n dùng vào vi c ph m tội nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp. T i phiên tòa phúc thẩm bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết gì mới nên Hội đồng xét xử không có cơ s chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xét kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa v liên quan Lê Minh T: T i phiên tòa phúc thẩm ông T trình bày xe này là xe của bị cáo, ông T cho bị cáo tiền mua xe để làm phương ti n đi l i và cho bị cáo đứng tên đăng ký chủ s hữu nhưng không cung cấp được tài li u chứng cứ gì để chứng minh cho vi c ông T sử d ng tiền của mình để mua xe đồng thời bị cáo là chủ s hữu hợp pháp đối với xe này bị cáo kêu T điều khiển xe ch bị cáo thực hi n hành vi vi ph m pháp luật nên xe này là phương ti n ph m tội. Vì vậy không có cơ s chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Lê Minh T.

Xét ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đồng thời là người bảo v quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Minh T. Như đã phân tích đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án Lê Minh T. Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của người bào chữa đồng thời là người bảo v quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa v liên quan cũng không có cơ s chấp nhận.

Ý kiến của đ i di n Vi n Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về vi c không chận kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Đối với ý kiến Tòa án cấp sơ thẩm xác định tội danh của bị cáo là chưa chính xác. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra không xác định được đối tượng tên Pon và Tino nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là đúng. Do đó không cần thiết phải sửa án sơ thẩm theo ý kiến của đ i di n Vi n kiểm sát.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh P phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự 2015;

1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh P và người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án Lê Minh T; giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 212/2019/HS-ST ngày 11/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã T tỉnh Bình Dương.

Áp d ng điểm i khoản 1 Điều 250; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015;

Xử ph t bị cáo Nguyễn Thị Thanh P 03 (ba) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời h n tù tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ thời gian t m giam từ ngày 03/4/2019 đến ngày 12/4/2019.

2/ Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hi u Honda Air Blade màu đen biển số 60B2-343.73 số khung RLHJF4616EY821025 số máy JF46E-5521143 không kiểm tra bên trong.

(Theo biên bản về vi c giao nhận vật chứng tài sản ngày 06/8/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T và Chi c c thi hành án dân sự thị xã T).

3/ Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp d ng Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và l phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh P phải nộp 200.000 đồng.

4/ Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ