- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA __________ Bản án số 186 /2017/HSST Ngày: 21/8/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA.
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Như Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trường Chinh và ông Lường Tiến Quynh.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Hà Thị Nga, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Sa Văn Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 21/8/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 190/2017/HSST ngày 11 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn T, sinh năm 1988. Tại huyện M, tỉnh Sơn La;
Nơi ĐKHKTT: Tiểu khu D, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông: Bùi Văn V (Đã chết); con bà Vì Thị K: Sinh năm 1963; có vợ là Nguyễn Thị D: Sinh năm 1990 (Hiện đang đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản); Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014;
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam, giữ từ ngày 14/6/2017 đến nay, có mặt tại phiên toà.
NHẬN THẤY
Bị cáo Bùi Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Hồi 22 giờ 30 phút ngày 13/6/2017 tổ công tác Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại Tiểu khu 1/5, xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu phát hiện Lò Văn L; sinh năm 1988; trú tại Tiểu khu A và Đỗ Văn N; sinh năm 1989; trú tại Tiểu khu C (Cả hai Tiểu khu đều thuộc xã C, huyện M) đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tang vật thu giữ gồm 01 bật lửa ga màu xanh, một mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy, một mảnh ni lon mầu trắng. Quá trình bắt gBuifCCLUNN khai nhận vừa sử dụng hết 04 viên ma túy tổng hợp (Hồng phiến), về nguồn gốc số ma túy có để sử dụng là L và N mua của Bùi Văn T (Có lý lịch nêu trên) với giá 200.000đ. Căn cứ vào hành vi vi phạm và tang vật đã thu giữ, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đưa L Và N về Công an huyện Mộc Châu để điều tra làm rõ.
Ngày 14/6/2017 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộc Châu ra lệnh bắt khẩn cấp với Bùi Văn T thu giữ của T 05 viên Hồng phiến, 200.000đ, 01 chứng minh nhân dân mang tên Bùi Văn T. Quá trình điều tra Bùi Văn T khai nhận khoảng 21h 30 phút ngày 13/6/2017 T có được bán cho L 04 viên ma túy tổng hợp (Hồng phiến) với giá 200.000đ. Số tiền 200.000đ bị thu giữ là tiền bán ma túy cho Lộc.
Về nguồn gốc ma túy có để bán T khai T mua của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên được 10 viên Hồng phiến, T đã sử dụng 01 viên, bán cho L 04 viên còn 05 viên thì bị thu giữ.
Ngày 14/6/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, xác định trọng lượng 05 viên nén nghi là ma túy tổng hợp (Hồng phiến) thu giữ của Bùi Văn T có trọng lượng 0,48 gam. Lấy toàn bộ 05 viên làm mẫu gửi giám định, xác định có phải ma túy không, thuộc loại chất ma túy gì, trọng lượng (khối lượng) của mẫu gửi giám định là bao nhiêu, mẫu ký hiệu “T”.
Tại kết luận giám định số 653/KLMT ngày 18/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “ Mẫu gửi giám định ký hiệu (T) là chất ma túy; Loại chất Methamphetaminne; trọng lượng của mẫu gửi giám định là 0,48 gam. Trọng lượng chất ma túy thu giữ được 0,48 gam, loại chất Methamphetaminne”.
Tại bản cáo trạng số 153/CT-VKS ngày 09/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đã truy tố bị cáo với nội dung: Truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Mộc Châu để xét xử đối với bị can Bùi Văn T về tội: Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đã phát biểu ý kiến, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy, áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt đối với bị cáo như sau:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 41 BLHS; khoản 1, 2 Điều 76 BLTTHS. Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo; tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 02 test thử nhanh, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy, 01 mảnh ni lon mầu trắng, 01 phong bì niêm phong vỏ gói niêm phong ban đầu.
Trả lại cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân mang tên bị cáo Bùi Văn T.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và lời khai của bị cáo.
XÉT THẤY
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn T giữ nguyên lời khai của mình như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản vi phạm hành chính lập hồi 22 giờ 30 phút ngày 13/6/2017 đối với Lò Văn L và Đỗ Văn N, biên bản niêm phong vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận: Ngày 13/6/2017 bị cáo Bùi Văn T đã có hành vi bán trái phép 04 viên ma túy tổng hợp (Hồng phiến) cho Lò Văn Lvới giá 200.000 đồng để L và N sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự có mức hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử đã đánh giá các tình tiết, nội dung vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, việc xử lý vật chứng trong vụ án. Hội đồng xét xử nhận định đánh giá như sau:
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Do đó xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn, không có tài sản gì có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án.
Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo xét là tiền do bị cáo phạm tội mà có, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 02 test thử nhanh, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy, 01 mảnh ni lon mầu trắng, 01 phong bì niêm phong vỏ gói niêm phong ban đầu là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chứng minh nhân dân thu giữ mang tên bị cáo Bùi Văn T là giấy tờ hợp pháp của bị cáo, cần tuyên trả lại cho bị cáo.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn L và Đỗ Văn N chỉ là vi phạm hành chính. Công an huyện Mộc Châu đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đã bán trái phép chất ma túy cho bị cáo như bị cáo khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ do đó không có căn cứ để điều tra xử lý.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2017.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 41 BLHS; 1, 2 Điều 76 BLTTHS.
Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng thu giữ của bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 02 test thử nhanh, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy, 01 mảnh ni lon mầu trắng, 01 phong bì niêm phong vỏ gói niêm phong ban đầu.
Tuyên trả lại cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân mang tên bị cáo Bùi Văn T.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - Viện KSND Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS Mộc Châu; - Trại giam; - THA H/S; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Đỗ Như Khánh |