- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Phan Thị L - Trần Thị Mỹ H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Mỹ H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 186/2017/DS-PT Ngày: 28-9-2017 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà:
Ông Nguyễn Minh Hoàng
Các Thẩm phán:
Ông Đoàn Hoài Trí
Ông Ngô Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cảnh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diê ̣n Viê ̣n Kiểm sá t nhân dân tinh Binh Dương tham gia phiên
̉
̀ tòa: Ông Phạm Văn Xông – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 và 28 tháng 9 năm 2017, tại tru ̣ sở Toà án nhân dân tinh Bỉ
nh Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
̀ 128/2017/DS-PT ngày 18/8/2017 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2017/DS-ST ngày 05/7/2017 của Toà án nhân dân thi ̣ xa D, tỉnh Bình Dương bi ̣̃
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 137/2017/QĐPT-DS ngày 28/8/2017, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị L, sinh năm 1950; địa chỉ: Số 18/21, khu phố B2, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Bà Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1976; địa chỉ: Số 293/13, đường L, Phường 9, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Phòng Công chứng X tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Số 30/7, đường ĐT 743, khu phố Đ, phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
+ Ông Cao Anh T; địa chỉ: Số 6/6, khu phố T, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương.
+ Bà Phan Ngọc Đ; địa chỉ: Số 6/6, khu phố T, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương.
+ Bà Nguyễn Ngọc D; địa chỉ: Số 6/6, khu phố T, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương.
- Ngườ i khá ng cá o: Bị đơn bà Trần Thị Mỹ H.
NỘI DUNG VỤ Á N:
Tại đơn khởi kiện ngày 28/9/2016, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 08/3/2017 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phan Thị L trình bày:
Khoảng năm 2008 – 2009, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên bà có vay của bà Trần Thị Mỹ H số tiền 100.000.000đ để trị bệnh và trang trải cuộc sống gia đình. Việc vay tiền này hai bên có lập giấy vay tiền do bà H giữ. Thờ i ha ̣n vay và lai suẫ
́t bà không nhớ rõ vi thờ i gian đa lâu. Bã
̀ có trả tiền lai cho bã
̀ H
̀
được khoảng 3 tháng, mỗi tháng 2.000.000đ.
Sau khi vay mô ̣t thờ i gian do không có tiền trả nên bà có ra công chứ ng ký hợp đồng ủy quyền cho em bà là Nguyễn Ngo ̣c D đứ ng ra làm thủ tu ̣c vay tiền Ngân hàng giúp bà nhưng sau đó bà D không vay được. Do bà H nói bà H có thể vay tiền được vớ i điều kiê ̣n bà phải ra Phòng Công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng cho bà H nhà và đất tại số 18/21, khu phố B2, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Bà nghi do bã
̀ H còn trẻ, lanh lợi có thể vay tiền được nên ngày 20/4/2010 bà có ra công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho bà H. Tuy nhiên, thực tế bà chỉ ký để cho bà H có quyền đứng ra thế chấp nhà đất của bà cho Ngân hàng vay tiền hộ bà để bà có tiền trả cho bà H.
Sau khi ký hợp đồng xong, bà giao cho bà H toàn bô ̣ giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất và các giấy tờ kèm theo để bà H làm thủ tục vay tiền cho bà. Sau đó, bà cũng thấy cán bô ̣ Ngân hàng xuống xem nhà đất của bà vài lần, tuy nhiên bà H không liên la ̣c la ̣i vớ i bà nữa. Đến khoảng giữa năm 2015, bà H xuất hiê ̣n và cho ngườ i xông vào nhà bà, do ̣n đồ đa ̣c và đuổi bà ra khỏi nhà để lấy nhà. Khi đó bà mớ i biết bà H không vay tiền giúp bà mà đa sang tên quyền sữ
̉ du ̣ng đất cho bà H để chiếm đoa ̣t nhà đất của bà. Do đó, bà khở i kiê ̣n yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất giữa bà vớ i bà H, hủy giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất đa cẫ ́p cho bà H để bà lấy la ̣i nhà.
Ngày 08/3/2017, bà có đơn thay đổi yêu cầu khở i kiê ̣n yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất giữa bà vớ i bà H là vô hiê ̣u do giả ta ̣o và giải quyết hâ ̣u quả của hợp đồng vô hiê ̣u theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
- Ta ̣i văn bản ngày 26/12/2016, ngày 15/5/2017 và lờ i khai trong quá trinh
̀ tố tu ̣ng, bi ̣ đơn bà Trần Thi ̣ My H trĩ
nh bày:
̀
Bà mua nhà đất của bà L từ năm 2010, hai bên có lâ ̣p hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất được chứ ng nhâ ̣n ta ̣i Phòng Công chứ ng X tinh Bỉ
nh
̀ Dương. Giá chuyển nhượng là 500.000.000đ bao gồm cả nhà, đất và công trinh
̀ phu ̣ gắn liền. Tuy nhiên, do bà L không có chỗ ở khác nên bà L thỏa thuâ ̣n thuê la ̣i nhà để ở trong thờ i gian 04 năm, vớ i giá 6.000.000đ/ năm x 4 năm = 24.000.000đ. Tiền thuê nhà được trừ vào tiền bán nhà. Như vâ ̣y, bà chỉ trả cho bà Lượm 475.000.000đ sau khi trừ tiền thuê nhà và chi phi làm thủ tu ̣c chuyển
́ nhượng. Trướ c khi ra Phòng Công chứ ng X ký hợp đồng, vào buổi sáng ngày 20/4/2010 bà đa giao cho bã
̀ L số tiền 475.000.000đ, giao mô ̣t lần và không làm giấy tờ giao nhâ ̣n vi hai bên tin tưở ng nhau. Viê ̣c giao nhâ ̣n tiền được thực hiê ̣n
̀ ta ̣i nhà bà Nguyễn Ngo ̣c D nhưng không có ai chứ ng kiến. Buổi chiều cùng ngày sau khi ký hợp đồng ở Phòng Công chứ ng, hai bên quay về nhà bà L làm hợp đồng cho bà L thuê la ̣i nhà trong thờ i gian 04 năm vớ i giá 24.000.000đ (giấy tay). Hợp đồng thuê nhà chi lâ ̣̉ p giấy tay do bà giữ nhưng hiê ̣n nay bà đa lã ̀m thất la ̣c. Bà cho bà L thuê la ̣i nhà đất từ đó cho đến giữa năm 2014 là hết ha ̣n hợp đồng. Khi hết ha ̣n, bà báo cho bà L trả la ̣i nhà nhưng bà L cố tinh không trả
̀ nhà và không thanh toán tiền thuê nhà. Tháng 06/2015, bà lấy la ̣i nhà và thuê nhà khác cho bà L sinh sống. Quá trinh thuê nhà sử du ̣ng, bà L làm hư hỏng nhà
̀
trầm tro ̣ng. Vi vâ ̣y, bà yêu cầu bà L trả tiền nhà còn thiếu, tiền nhà bi ̣ hư hỏng
̀ (50.000.000đ) và bồi thườ ng do gây khó khăn thiê ̣t ha ̣i ảnh hưở ng quyền sở hữu hợp pháp của bà.
Sau khi Tòa án tiến hành đi ̣nh giá nhà đất thi bà H đưa ra ý kiến nếu bà L
̀ muốn lấy la ̣i nhà đất thi phải trả cho bà 500.000.000đ và tiền lai theo lã
i suẫ
́t
̀ Ngân hàng từ năm 2010 đến nay, tổng cô ̣ng 1.270.000.000đ hoă ̣c trả la ̣i giá tri ̣ nhà, đất theo giá Hô ̣i đồng đi ̣nh giá đa đi ̣̃ nh là 980.020.120đ.
Ta ̣i phiên tòa sơ thẩm, bà H không đồng ý yêu cầu khở i kiê ̣n của bà L vi bà
̀ cho rằng bà mua nhà đất của bà L có hợp đồng đa đượ̃
c công chứ ng, bà đa đượ̃
c cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền vớ i đất.
- Ta ̣i Biên bản lấy lờ i khai ngày 03/4/2017, bà Nguyễn Ngo ̣c D trinh bày:
̀
Bà là em ruô ̣t bà L. Khoảng năm 2008 - 2009, bà có giớ i thiê ̣u cho bà L vay tiền của bà H số tiền 100.000.000đ. Khi vay hai bên có lâ ̣p giấy tờ vay có thế chấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất cho bà H. Giấy tờ vay tiền do bà H giữ. Bà có chứ ng kiến viê ̣c thỏa thuâ ̣n và giao nhâ ̣n tiền vay của hai bên. Sau đó, bà L không có tiền trả nên có ủy quyền cho bà để bà đứ ng ra vay tiền Ngân hàng trả tiền cho bà H nhưng bà không vay được. Viê ̣c bà L ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất cho bà Ha ̣nh bà hoàn toàn không biết. Do đó, hiê ̣n nay bà không có ý kiến gi.
̀
- Ta ̣i bản tự khai ngày 09/3/2017, ông Cao Anh T và bà Phan Ngo ̣c Đ trinh
̀ bày: Ông T là con bà L, bà Đ là vợ ông T. Thờ i điểm năm 2008 – 2009, ông, bà ở chung nhà vớ i bà L nhưng ông, bà không biết viê ̣c bà L có vay tiền hay thỏa thuâ ̣n và ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất cho bà H. Khi bà H cho ngườ i đến đuổi bà L ra khỏi nhà thi ông, bà mớ i biết. Quá trinh sinh sống ta ̣i
̀
̀ nhà này ông, bà không có đầu tư, sử a chữa gi thêm. Nay ông, bà yêu cầu Tòa án
̀
chấp nhâ ̣n yêu cầu của bà L để gia đinh ông, bà có chỗ ở .
̀
- Ta ̣i văn bản ngày 19/12/2016, Phòng Công chứ ng X tỉnh Binh Dương
̀ trinh bày: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất số 1752 ngày 20/4/2010 ̀ được công chứ ng trên cơ sở thỏa thuâ ̣n tự nguyê ̣n của các bên, các bên có đủ năng lực hành vi dân sự, đối tượng hợp đồng đủ điều kiê ̣n giao di ̣ch, nô ̣i dung thỏa thuâ ̣n không trái pháp luâ ̣t. Do đó, Phòng Công chứ ng chứ ng nhâ ̣n hợp đồng là đúng quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2017/DS-ST ngày 05/7/2017 của Toà án nhân dân thi ̣ xa D, tỉnh Bình Dương đã
quyết đi ̣̃
nh:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị L về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
2. Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 1752, quyển số 01TP/CC-SCCC/HĐGD ngày 20/4/2010 giữa bà Phan Thị L với bà Trần Thị Mỹ H.
3. Buộc bà Trần Thị Mỹ H phải trả cho bà Phan Thị L số tiền 860.138.000đ (tám trăm sáu mươi triệu một trăm ba mươi tám nghìn đồng), trong đó bao gồm: 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng) tiền nhận chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất và 360.138.000đ (ba trăm sáu mươi triệu một trăm ba mươi tám nghìn đồng) tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 05/7/2017, bị đơn Trần Thị Mỹ H có đơn kháng cáo và ngày 11/7/2017 có đơn kháng cáo bổ sung; bà H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa Bản án sơ thẩm số 69/2017/DS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2017 của Toà án nhân dân thị xã D, công nhận căn nhà bà H đang đứng tên là hợp pháp, buộc bà L phải thanh toán số tiền bà L thiếu tiền thuê nhà cho bà H từ năm 2014 - 2015 và các khoản khác là 148.000.000đ.
Ta ̣i phiên tòa phúc thẩm: Bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n Kiểm sát nhân dân tỉnh Binh Dương phát biểu quan điểm:
̀ Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H cung cấp chứng cứ mới thể hiện bà L xác định có bán nhà đất cho bà H và đã nhận số tiền 200.000.000đ, còn 300.000.000đ bà L yêu cầu bà H giao hết số tiền này mới giao nhà đất cho bà H. Trong hồ sơ thể hiện, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có giấy xác nhận tình trạng bất động sản và giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của bà L. Các tài liệu, chứng cứ này cần được xác minh làm rõ và cần xem xét đánh giá chứng cứ mới tại Tòa án hai cấp. Do đó, cần hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ về cho Tòa án nhân dâm thị xã D giải quyết lại.
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy:
[1] Về thời hiệu khởi kiện: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất số công chứ ng 1752, quyển số 01TP/CC-SCCC/HĐGD được ký kết giữa bà Phan Thị L với bà Trần Thị Mỹ H vào ngày 20/4/2010 nhưng hai bên chưa thực hiện hợp đồng. Tháng 5/2014, bà H yêu cầu bà L giao nhà nhưng bà L không giao nên cả hai tranh chấp và tiến hành hòa giải tại khu phố. Tháng 6/2015, bà H đòi lại nhà và bà L chuyển đi chỗ khác. Sau đó, bà L cũng đã nhiều lần kiện bà H tại Tòa án nhân dân thị xã D. Mặt khác, bà L khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do giả tạo theo quy định của Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2005 nên theo quy định của Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005 không bị hạn chế về thời hiệu khởi kiện.
[2] Nguyên đơn bà Phan Thị L cho rằng khoảng năm 2008 – 2009 bà có vay của bà H 100.000.000đ, hai bên đã giao nhận tiền, giấy vay mượn tiền do bà H giữ và bà có đến Phòng Công chứ ng X tỉnh Binh Dương ký hợp đồng chuyển
̀ nhượng quyền sử dụng đất cho bà H nhưng chỉ ký trên hinh thứ c chứ thực tế
̀ không có thỏa thuâ ̣n chuyển nhượng đất, bà chỉ ký hợp đồng để sang tên cho bà Ha ̣nh để bà Ha ̣nh đứ ng ra vay tiền Ngân hàng giúp bà. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất số công chứ ng 1752, quyển số 01TP/CC-SCCC/HĐGD ngày 20/4/2010 với lý do hợp đồng này vô hiệu do giả tạo. Bị đơn bà Trần Thị Mỹ H cho rằng bà có nhận chuyển nhượng diê ̣n tich đất 44,07m2 thuô ̣c thử a số 1163, tờ bản đồ 3AB4 và tài sản gắn liền vớ i
́ đất là nhà tọa lạc ta ̣i khu phố B2, phườ ng D, thi ̣ xa D, tĩ
nh Bỉ
nh Dương; giá
̀ chuyển nhượng là 500.000.000đ (bao gồm cả nhà và đất), bà H đã giao đầy đủ tiền cho bà L nhưng không lập giấy tờ giao nhận tiền, do đó không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3] Xét, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất số công chứ ng 1752, quyển số 01TP/CC-SCCC/HĐGD ngày 20/4/2010 có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật, bà L cũng thừa nhận bà đã ký vào hợp đồng chuyển nhượng cho bà H, theo ý kiến của Phòng Công chứng X thì các bên tham gia giao kết hợp đồng hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, tự nguyện giao kết, không bị lừa dối, ép buộc; quyền sử dụng đất mà các bên giao dịch đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm công chứng và xác định hợp đồng chuyển nhượng này đúng với quy định pháp luật. Bà L khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu vì cho rằng bà không có thỏa thuận chuyển nhượng, không nhận tiền từ bà H. Tuy nhiên, bà L không cung cấp được chứng cứ chứng minh hợp đồng này che giấu cho việc vay mượn tiền. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa bà L với bà H và các bên phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng.
[4] Theo hợp đồng chuyển nhượng thì các bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 500.000.000đ, bà H xác định đã thanh toán đủ số tiền này cho bà L bằng tiền mặt 475.000.000đ, cấn trừ 24.000.000đ tiền thuê nhà 4 năm, tiền chi phí làm thủ tục chuyển nhượng 1.000.000đ; việc thanh toán được thực hiện trong ngày 20/4/2010, trước khi hai bên ra Phòng công chứng; bà L không thừa nhận việc này. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bà H cung cấp cho Hội đồng xét xử bản chính biên bản hòa giải về việc đòi nhà cho ở nhờ ngày 22/5/2014 tại Tổ hòa giải khu phố B2 thể hiện: “Ý kiến bà L: Bà L đã bán nhà và đất là 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng). Bà L có nhận 200.000.000đ và không nhận 300.000.000đ. Bà L yêu cầu bà H giao đủ số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) còn lại thì bà L sẽ giao nhà”. Bà L cũng thừa nhận chữ ký và nội dung trong biên bản nói trên và xác định đã nhận của bà H 200.000.000đ. Bà H xác định bà cho bà L thuê nhà với giá 24.000.000đ với thời hạn 4 năm nhưng không cung cấp được hợp đồng cho thuê cũng như các chứng cứ chứng minh việc cho thuê nhà. Bà L không thừ a nhâ ̣n có quan hê ̣ thuê nhà và trả tiền thuê cấn trừ vào tiền chuyển nhượng nhà, đất. Như vậy, có căn cứ xác định bà H và bà L đã thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá 500.000.000đ và bà H đã thanh toán được 200.000.000đ nhưng bà H chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán xong tiền nhận chuyển nhượng nhà đất, vi phạm quy định tại khoản 1, Điều 701 Bộ luật Dân sự năm 2005 “bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có các nghĩa vụ sau đây: 1. Trả đủ tiền, đúng thời hạn và đúng phương thức đã thỏa thuận cho bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do đó, bà H phải thực hiện nghĩa vụ của bên nhận chuyển nhượng là trả đủ 300.000.000đ còn lại.
[5] Hợp đồng thể hiện nghĩa vụ thanh toán tiền là “ngay sau khi ký hợp đồng”, bà H cũng xác định hai bên không có thỏa thuận đặt cọc mà bà phải trả hết tiền ngay trong ngày ký hợp đồng. Tuy nhiên, bà H đã chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”. Như vậy, bà H phải trả lãi đối với số tiền 300.000.000đ, tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả tiền 21/4/2010 đến ngày xét xử sơ thẩm 05/7/2017 là 07 năm 02 tháng 13 ngày, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 là 10%/năm là 212.583.000đ.
[6] Ngoài ra, bà H kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc bà bà L phải thanh toán số tiền bà L thiếu tiền thuê nhà cho bà H từ năm 2014 - 2015 và các khoản khác là 148.000.000đ. Tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà H đã có đơn yêu cầu giải quyết các vấn đề này, Tòa án đã thông báo cho bà H thực hiện thủ tục phản tố theo đúng quy định của Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bà H không thực hiện, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã không thụ lý giải quyết yêu cầu này. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét yêu cầu kháng cáo này của bà H.
[7] Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị hủy án sơ thẩm là chưa phù hợp. Bởi lẽ, giấy xác nhận tình trạng bất động sản và tình trạng hôn nhân bà L thừa nhận là do bà L làm để làm thủ tục chuyển nhượng theo yêu cầu của bà H, các giấy tờ này được xác nhận của Ủy ban nhân dân phường D và đã được Phòng Công chứng X chấp nhận khi hai bên ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng. Do đó, không cần phải xác minh các giấy tờ nói trên. Đối với biên bản hòa giải tại khu phố B2 do bà H cung cấp thể hiện việc bà L xác định đã trả cho bà H số tiền 200.000.000đ, bà H còn thiếu 300.000.000đ nếu giao đủ tiền, bà L sẽ giao nhà. Biên bản này đã được bà L thừa nhận là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu do sửa án sơ thẩm.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà L phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu không được chấp nhận; bà H phải chịu án phí có giá ngạch đối với nghĩa vụ thanh toán tiền theo quy định tại khoản 2, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
[10] Về chi phí tố tụng: Bà Phan Thị L phải chịu chi phí xem xét thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ và chi phi định giá tài sản theo quy định tại khoản 1, Điều 157 và
́ khoản 2, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1, Điều 148; khoản 1, Điều 308; Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Mỹ H.
Sửa Bản án sơ thẩm số 69/2017/DS-ST ngày 05/7/2017 của Toà án nhân dân thi ̣ xa D, tỉnh Bình Dương như sau:̃
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị L về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/4/2010 giữa bà Phan Thị L với bà Trần Thị Mỹ H là vô hiệu.
- Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 1752, quyển số 01TP/CC-SCCC/HĐGD ngày 20/4/2010 giữa bà Phan Thị L với bà Trần Thị Mỹ H.
- Buộc bà Trần Thị Mỹ H phải trả cho bà Phan Thị L số tiền 512.583.000đ (năm trăm mười hai triệu năm trăm tám mươi ba nghìn đồng), trong đó bao gồm: 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) tiền nhận chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất và 212.583.000đ (hai trăm mười hai triệu năm trăm tám mươi ba nghìn đồng) tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền phải thi hành thì còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Phan Thị L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0008561 ngày 05/12/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D.
Bà Trần Thị Mỹ H phải chịu 24.503.320đ (hai mươi bốn triệu năm trăm lẻ ba nghìn ba trăm hai mươi đồng).
3. Về chi phí tố tụng: Bà Phan Thị L phải chịu 1.000.000đ (mô ̣t triê ̣u đồng) chi phí xem xet, thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ và định giá tài sản, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng đã nộp tại Tòa án.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho bà Trần Thị Mỹ H số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0009818 ngày 11/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
̉
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Binh Dương;̀ - TAND thị xã D; - Chi cu ̣c THADS thị xã D; - Các đương sự; - Tổ HCTP; - Lưu: Hồ sơ, Toà Dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚ C THÂM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Minh Hoàng |