vanban.org

Bản án 185/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 10/09/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ vào các Điều 260, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụn hình sự;

Về tội danh: Tu ên bố bị cáo N u n N ọc H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; tội Làm iả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội Sử dụn con dấu hoặc tài liệu iả của cơ quan, tổ chức”. Về trách nhiệm hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc H - Bị truy tố tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? C n cứ vào các Điều 260, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụn hình sự;
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2024/HS-ST
Ngày: 10-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: n N u n V n Tr n

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thái Bình Hòa

Ông Ngô Xuân Khanh

- Thư ký phiên tòa: n Hoàn V n Qu ết – Th ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: n Lê Minh Điền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 9 n m 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình D ơn , xét xử sơ thẩm côn khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 120/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 n m 2024 theo Qu ết định đ a vụ án ra xét xử số: 158/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 7 n m 2024 đối với bị cáo:

N u n N ọc H, sinh ngày 02 tháng 3 n m 2002 tại tỉnh Bình D ơn . Nơi c trú: Ấp B, xã L, hu ện B, tỉnh Bình D ơn ; n hề n hiệp: Phụ iúp ia đình; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; iới tính: Nam; tôn iáo: Khôn ; quốc tịch: Việt Nam; con ông N u n Thuận P và bà Phạm Thị Thanh D; bị cáo có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: Khôn ; nhân thân: N à 21/9/2023, bị Tòa án nhân dân hu ện B, tỉnh Bình D ơn xử phạt 06 thán tù về tội Đánh bạc (đã chấp hành án xon ); bị bắt, tạm giam ngày 23/8/2024; có mặt.

- Bị hại:

1. Bà Hoàng Thị V, sinh n m 1971; nơi c trú: Thôn Đ, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội; có mặt.

2. Bà Lê Thị T, sinh n m 1982; nơi c trú: Tổ 3, khu phố T, ph ng T, thị xã T, tỉnh Bình D ơn ; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Công ty TNHH phát triển bất động sản S; Trụ sở: Số 157, đ ng L, ph ng H, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình D ơn ;

Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Hoàng Danh P, sinh n m 1995; nơi c trú: Thôn 1, xã L, hu ện P, tỉnh Bình Ph ớc là n i đại diện theo ủ qu ền (V n bản ủ qu ền n à 09/9/2024); có mặt.

2. Ông Nguy n V n Q, sinh n m 1967; nơi c trú: C n hộ E4-01, khu V, Khu phố 3, ph ng T, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; vắn mặt.

3. Anh Nguy n Ngọc K, sinh n m 2004; nơi c trú: Ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình D ơn ; có mặt.

4. n N u n Thuận P, sinh n m 1977; nơi c trú: Ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình D ơn ; có mặt.

5. Ông Trần V n T, sinh n m 1973; nơi c trú: Xóm L, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau; vắn mặt.

6. Anh Nguy n V n Q, sinh n m 1988; nơi c trú: Xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; vắn mặt.

7. Chị Trần Thị Thanh X, sinh n m 1994; nơi c trú: Thôn Đ, xã H, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội; vắn mặt.

8. Anh Nguy n Lê Th n L, sinh n m 1992; nơi c trú: Số 351, đ ng N, ph ng P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

9. Bà Lê Thị T, sinh n m 1982; nơi c trú: Tổ 3, khu phố T, ph ng T, thị xã T, tỉnh Bình D ơn ; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có tron hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dun vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

Từ tháng 11/2019, Nguy n Ngọc H là nhân viên môi giới bất động sản của Công ty TNHH phát triển bất động sản S (viết tắt là Công ty S); đến tháng 12/2020, H đ ợc bổ nhiệm chức vụ Tr ởng phòng kinh doanh; ngày 29/7/2022, H nghỉ việc.

Khoản đầu tháng 02/2022, bà Lê Thị T đến Công ty S có trụ sở tại ph ng H, thành phố T để tìm hiểu Dự án Khu nhà ở S, có địa chỉ tại xã Long Nguyên, huyện Bàu Bàng; bà T đ ợc H giới thiệu thửa đất số LKL, Ô số 17 (viết tắt là thửa LKL-17) có diện tích 95m2 của dự án có giá 926.000.000 đồng; bà T đồng ý mua thửa đất này; theo thỏa thuận thì bà T đặt cọc 30.000.000 đồng và trong th i hạn 02 tháng, bà T phải thanh toán tiếp số tiền 35% trị giá thửa đất (t ơn đ ơn 324.000.000 đồng), bà T có thể ký gửi để Công ty S bán lại thửa LKL-17 cho n i khác để h ởng tiền chênh lệch.

Ngày 25/02/2022, bà T đến trụ sở Công ty S đặt cọc, do Công ty S có sự điều chỉnh lại giá của các thử đất (tron đó có thửa LKL-17), nh n H ch a kịp cập nhật để báo lại cho bà T biết, H nói với anh Nguy n Ngọc K (em ruột của H cũn là nhân viên của Công ty S) tạm lập thỏa thuận đặt cọc với nội dung: Bà T đặt cọc 30.000.000 đồng mua thửa đất ở vị trí thửa LKC, Ô số 21 (viết tắt là thửa LKC-21) có diện tích 102m2 với giá 867.000.000 đồng. Lúc này, H không nói cho bà T biết việc H tự ý tha đổi việc bà T đặt cọc từ thửa LKL-17 sang thửa LKC-21, mà H dự định ch Công ty S điều chỉnh giá sẽ t vấn cho bà T. Sau khi nhận cọc 30.000.000 đồng của bà T, H giao cho kế toán của Công ty S.

Khi Công ty S điều chỉnh lại giá, H không thông báo cho bà T biết để tha đổi nội dun đặt cọc từ thửa LKL-17 sang thửa LKC-21. Ngày 19/5/2022, Công ty S ký Hợp đồng số 1172-190522/HĐNT/BĐSSG bán thửa LKL-17 cho ông Trần V n T với giá 983.910.535 đồng. Việc Công ty S bán thửa LKL-17 cho ông Trần V n T, H biết rõ.

Khi hết th i hạn đặt cọc 02 tháng, do bà T ch a có tiền thanh toán đợt tiếp theo, bà T cũn không biết Công ty S đã bán thửa LKL-17 cho ông T, nên nh H xin Công ty S gia hạn thêm 01 tháng sẽ thanh toán. Lúc này, H biết bà T không bị mất tiền cọc, vì Công ty S sẽ trả lại tiền đặt cọc cho khách, nếu khách hàn khôn đủ điều kiện tiếp tục thanh toán; tuy nhiên, do cần tiền nên H nói với bà T đặt cọc thêm 20.000.000 đồn để đ ợc gia hạn; tin l i H, ngày 28/5/2022 bà T chuyển khoản cho H 20.000.000 đồng, H chiếm đoạt số tiền này và tiêu xài hết.

Khoảng cuối tháng 6/2022, bà T liên hệ với H nói muốn bán thửa LKL-17 cho bà Hoàng Thị V để h ởng tiền chênh lệch. H biết thửa LKL-17 ông Trần V n T đã mua, nh n H nả sinh ý định làm giả con dấu, hợp đồng để chiếm đoạt tiền của bà V. Tiếp đó, H nói với bà T nếu muốn bán thửa LKL-17 cho bà V, thì phải thanh toán số tiền 35% trị giá của thửa đất, bà T đồng ý.

Ngày 26/6/2022, H lên mạng xã hội liên hệ với một n i (H không biết nhân thân, lai lịch) đặt làm giả 01 con dấu của Công ty S; sau đó, H chụp hình mẫu dấu thật của Công ty S trong các hợp đồng và gửi cho n i này làm giả con dấu với giá 2.000.000 đồng. Khoảng 12 gi ngày 27/6/2022, H đến gặp n i nam (không rõ nhân thân, lai lịch) tại Khu phố 1, ph ng H, thành phố Thủ Dầu Một nhận con dấu giả rồi đ a 2.000.000 đồn cho n i này. Sau đó, H tự làm giả Hợp đồng số 7853-60521/HĐNT/BĐSSG iả các thông tin, chữ ký của ông Nguy n V n Q – Tổng giám đốc Công ty S và đón con dấu đã làm iả vào hợp đồng để ch bà V ký.

Khoảng 14 gi 30 phút ngày 30/6/2022, H dẫn bà T và bà V đến xem vị trí thửa LKL-17; tr ớc khi xem đất, bà T nh H nói với bà V giá của thửa đất là 1.050.000.000 đồng, đặt cọc 50.000.000 đồng, thanh toán tr ớc 50% trị giá thửa đất, số tiền còn lại trả óp tron vòn 02 n m, để bà T h ởng chênh lệch đầu t l ớt sóng (tức là bà T thanh toán 35% theo thỏa thuận mua thửa LKL-17 với giá 926.000.000 đồng, còn bà V thanh toán 50% theo thỏa thuận mua thửa LKL-17 với giá 1.050.000.000 đồng). Sau đó, H nói với bà V theo l i của bà T, bà V đồng ý mua thửa LKL-17 với giá và hình thức thanh toán nh H đ a ra. Khoảng 15 gi 10 phút cùng ngày, bà V nh anh Nguy n V n Q (cháu bà V) chuyển khoản 20.000.000 đồng cho H; đến khoảng 18 gi 30 phút cùng ngày, bà V đ a cho bà T 30.000.000 đồng (tiền bà T đã bỏ ra đặt cọc mua thửa LKL-17).

Khoảng 13 gi 30 phút ngày 01/7/2022, bà T gặp H tại một quán cà phê trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, bà T đ a cho H 224.000.000 đồng. Tổng cộng H đã nhận 324.000.000 đồng (tron đó có 50.000.000 đồng của bà T và 50.000.000 đồng của bà V đã đặt cọc) t ơn đ ơn với 35% trị giá thửa LKL-17. Sau đó, bà T nói với bà V là bà T đã thanh toán tr ớc 380.000.000 đồng cho Công ty S, khi nào bà V ký hợp đồng thì trả lại tiền cho bà T.

Ngày 04/7/2022, bà V đến trụ sở Công ty S gặp H, H đ a Hợp đồng n u ên tắc về việc chu ển nh ợn qu ền sử dụn đất, nhà ở và tài sản khác hình thành tron t ơn lai số 7853-60521/HĐNT/BĐSSG đề ngày 01/7/2022 (H đã làm giả tr ớc đó) cho bà V xem; sau khi xem xong, bà V ký vào hợp đồng. Ngày 05/7/2022, bà V nh chị Trần Thị Thanh X (con gái bà V) chuyển cho bà T lần đầu 300.000.000 đồng và lần thứ hai là 80.000.000 đồng theo thỏa thuận giữa bà V và bà T (bà T l i đ ợc 136.000.000 đồng từ việc đầu t l ớt són , tron đó có 50.000.000 đồng đã bỏ ra đặt cọc cho H). Ngày 14/10/2022, bà V nh chị X chuyển vào tài khoản của H 30.000.000 đồng; ngày 29/11/2022, bà V chuyển tiếp 30.000.000 đồng cho H để thanh toán đợt 2.

Ngày 06/12/2022, bà V đến trụ sở Công ty S để hỏi về việc giao dịch mua bán thửa LKL-17. Lúc này, Công ty S cho bà V biết H đã n hỉ việc từ ngày 29/7/2022; thửa LKL-17, Công ty S đã bán cho ông Trần V n T vào ngày 19/5/2022; còn thửa LKC-21, H nhận cọc của bà T, Công ty S đã bán cho anh Nguy n Lê Th n L vào ngày 25/7/2022, do bà T vi phạm thanh toán theo thỏa thuận.

Ngày 08/12/2022, bà V đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D ơn nộp đơn tố giác hành vi lừa đảo của Nguy n Ngọc H. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình D ơn chu ển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 07/01/2023, Nguy n Ngọc H đến Công an thành phố Thủ Dầu Một đầu thú và giao nộp 01 con dấu màu đỏ, hộp hình vuông hiệu Dstamp, có khắc dấu hình tròn chữ “Côn t TNHH PHÁT TRIỂN BẤT ĐỘNG SẢN SÀI GÒN LAND* M.S.D.N: 0314926063-C.T.T.N.H.H* Q.BÌNH THẠNH - T.P HỒ CHÍ MINH*”.

Tại Kết luận iám định số 38/KL-KTHS(TL) ngày 13/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình D ơn kết luận: Chữ ký man tên “N u n V n Q” và hình dấu tròn có nội dung: “*M.S.D.N: 0314926063- C.T.T.N.H.H * Q.BÌNH THẠNH-T.P HỒ CHÍ MINH-CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN BẤT ĐỘNG SẢN SÀI GÒN LAND” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1 và A2) so với chữ ký của Nguy n V n Q và hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu (ký hiệu M) không phải do cùng một n i ký và con dấu đón ra.

Quá trình điều tra, N u n N ọc H thừa nhận đã chiếm đoạt của bà T số tiền 20.000.000 đồn và Làm iả hợp đồn chiếm đoạt của bà V số tiền 354.000.000 đồn .

Ngày 10/01/2023, ôn N u n Thuận P (cha ruột H) bồi th n cho bà T và bà V tổn số tiền H chiếm đoạt là 354.000.000 đồn , bà T và bà V khôn êu cầu H bồi th n thêm và làm đơn xin bãi nại cho H. Ngày 26/7/2023, Công ty S đã trả lại cho bà T 30.000.000 đồn đặt cọc. Đối với 136.000.000 đồn bà T l i từ việc bán đất cho bà V, bà T đã trả lại cho bà V.

Vật chứng chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một: 01 mẫu dấu màu đỏ, hộp hình vuôn hiệu Dstamp.

Tại Cáo trạn số 123/CT-VKSTDM ngày 13/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã tru tố bị cáo N u n N ọc H để xét xử về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Làm iả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội Sử dụn con dấu hoặc tài liệu iả của cơ quan, tổ chức”, qu định tại điểm a khoản 3 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đổi bổ sun n m 2017. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên iữ n u ên qu ết định tru tố; đồn th i, đề n hị Hội đồn xét xử: C n cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo N u n N ọc H từ 07 n m 06 tháng đến 08 n m tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; c n cứ điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo N u n N ọc H từ 03 n m đến 03 n m 06 thán tù về tội “Làm iả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội Sử dụn con dấu hoặc tài liệu iả của cơ quan, tổ chức”; đề n hị Hội đồn xét xử tổn hợp hình phạt để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung; về trách nhiệm dân sự: Đã iải qu ết xon , nên khôn đề n hị; về xử lý vật chứn : Đề n hị xử lý mẫu dấu đã thu iữ của bị cáo theo qu định của pháp luật.

Tại phần tranh luận, bị cáo khôn tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, khun hình phạt và mức hình phạt đã đề n hị.

Các bị hại và nhữn n i có qu ền lợi, n hĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt khôn có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói l i sau cùn : Bị cáo thấ việc làm của mình là sai trái, mon Hội đồn xét xử cho bị cáo đ ợc h ởn mức án nhẹ nhất để sớm trở về nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dun vụ án, c n cứ vào các tài liệu tron hồ sơ đã đ ợc tranh tụn tại phiên tòa, Hội đồn xét xử nhận định nh sau:

Về hành vi, qu ết định tố tụn của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên tron quá trình khởi tố, điều tra, tru tố đã thực hiện đún về thẩm qu ền, trình tự, thủ tục tố tụn theo qu định của Bộ luật Tố tụn hình sự; tu nhiên, việc khởi tố, điều tra và tru tố khôn đún điểm, khoản của Điều luật mà Bộ luật Hình sự qu định.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo N u n N ọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đún nh Cáo trạn của Viện Kiểm sát đã tru tố. L i khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với l i khai của các bị hại, n i có qu ền lợi, n hĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận iám định và các chứn cứ, tài liệu đã đ ợc thu thập có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định: N à 28/5/2022, tại Công ty S, địa chỉ số 157, đ n L, ph n H, thành phố Thủ Dầu Một, N u n N ọc H đã có hành vi đ a ra thôn tin ian dối để chiếm đoạt 20.000.000 của bà Lê Thị T; đồn th i, H đã có hành vi đặt làm iả con dấu, làm iả hợp đồn n u ên tắc về việc chu ển nh ợn qu ền sử dụn đất, nhà ở và tài sản khác hình thành tron t ơn lai số 7853-60521/HĐNT/BĐSSG n à 01/7/2022 của Côn t S để chiếm đoạt 354.000.000 đồn của bà Hoàn Thị V, tổn số tiền H chiếm đoạt của bà T và bà V là 374.000.000 đồn . Nh vậ , Cáo trạn của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một và kết luận của Kiểm sát viên đề n hị tru tố bị cáo N u n N ọc H để xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Làm iả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội Sử dụn con dấu hoặc tài liệu iả của cơ quan, tổ chức”, qu định tại điểm a khoản 3 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đổi bổ sun n m 2017 là có c n cứ, đún n i, đún tội, đún pháp luật; bị cáo đủ n n lực chịu trách nhiệm hình sự.

Về nhận thức, bị cáo biết việc đặt làm iả con dấu, làm iả hợp đồn và đ a ra thông tin ian dối nh m chiếm đoạt tài sản của các bị hại là vi phạm pháp luật, nh n vì t lợi và ý thức chấp hành pháp luật kém, nên bị cáo đã thực hiện; do đó, bị cáo phạm tội với l i cố ý. Hành vi của bị cáo là n u hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến qu ền sở hữu hợp pháp về tài sản của các bị hại đ ợc pháp luật bảo vệ và xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của cơ quan nhà n ớc; â mất trật tự, trị an tại địa ph ơn . Vì vậ , với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, phải có mức hình phạt t ơn xứn , cần cách l bị cáo ra khỏi xã hội một th i ian để iáo dục, cải tạo bị cáo trở thành côn dân tốt, cũn nh để r n đe và phòn n ừa tội phạm chun .

Tình tiết t n nặn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Phạm tội 02 lần trở lên (đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản), qu định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đổi bổ sun n m 2017.

Tình tiết iảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, n n n hối cải; bị cáo đã tích cực tác độn ia đình bồi th n toàn bộ thiệt hại cho các bị hại; các bị hại có êu cầu iảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và sau khi phạm tội, bị cáo đã đến Cơ quan Côn an đầu thú. Đâ là các tình tiết iảm nhẹ trách nhiệm hình sự, qu định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 (điểm b áp dụn đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản) Điều 51 của Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đổi bổ sun n m 2017.

Đánh iá tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội; tu nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã tích cực tác độn ia đình bồi th n toàn bộ thiệt hại cho các bị hại, nên đề n hị của Viện Kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là t ơn xứn , đún pháp luật. Do bị cáo không có tài sản riên , nên khôn áp dụn hình phạt bổ sun (phạt tiền) đối với bị cáo.

Đối bà Lê Thị T, khi iới thiệu và chu ển nh ợn lại thửa LKL-17 cho bà V để h ởng tiền chênh lệch, khôn biết H đã đ a ra thôn tin ian dối, làm iả hợp đồn và làm iả con dấu nh m chiếm đoạt tiền của bà nên Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát khôn tru cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Ôn N u n Thuận P (cha ruột H) đã bồi th n xon cho các bị hại, các bị hại khôn êu cầu bị cáo phải bồi th n thêm, nên khôn đặt ra xem xét.

Về n i làm giả con dấu cho bị cáo, do ch a xác định đ ợc nhân thân, lai lịch; Cơ quan điều tra đan tiếp tục điều tra, khi nào bắt đ ợc sẽ xử lý sau.

Về vật chứn của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủ mẫu dấu mà bị cáo đã đặt làm iả.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo qu định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

C n cứ vào các Điều 260, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụn hình sự;

1. Về tội danh: Tu ên bố bị cáo N u n N ọc H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; tội Làm iả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội Sử dụn con dấu hoặc tài liệu iả của cơ quan, tổ chức”.

2. Về trách nhiệm hình sự:

C n cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đổi bổ sun n m 2017;

Xử phạt bị cáo N u n N ọc H 07 (bả ) n m 06 (sáu) thán tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

C n cứ điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đổi bổ sun n m 2017;

Xử phạt bị cáo N u n N ọc H 03 (ba) n m tù về tội “Làm iả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội Sử dụn con dấu hoặc tài liệu iả của cơ quan, tổ chức”.

C n cứ khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đổi bổ sun n m 2017;

Tổn hợp hình phạt của hai tội: Buộc bị cáo N u n N ọc H phải chấp hành hình phạt chun là 10 (m i) n m 06 (sáu) thán tù. Th i hạn tù đ ợc tính từ n à 23/8/2024, đ ợc khấu trừ th i ian tạm iữ từ n à 07/01/2023 đến n à 13/01/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Khôn đặt ra.

4. Về xử lý vật chứn : C n cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự n m 2015 sửa đổi, bổ sun n m 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụn hình sự;

Tu ên tịch thu tiêu hủ : 01 mẫu dấu màu đỏ, hộp hình vuôn hiệu Dstamp, có khắc dấu hình tròn chữ “Côn t TNHH PHÁT TRIỂN BẤT ĐỘNG SẢN SÀI GÒN LAND* M.S.D.N: 0314926063 - C.T.T.N.H.H* Q.BÌNH THẠNH - T.P HỒ CHÍ MINH*”

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 015.24 ngày 30/10/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một).

5. Về án phí: C n cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụn hình sự; N hị qu ết số 326/2016/UBTVQH14 n à 30/12/2016 của Ủ ban Th n vụ Quốc hội về mức thu, mi n, iảm, thu, nộp, quản lý và sử dụn án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo N u n N ọc H phải chịu 200.000 đồn (hai tr m n hìn đồn ) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại và n i có qu ền lợi, n hĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt đ ợc qu ền khán cáo bản án tron th i hạn 15 n à , kể từ n à tu ên án. N i có qu ền lợi, n hĩa vụ liên quan đến vụ án vắn mặt đ ợc qu ền khán cáo bản án tron th i hạn 15 n à , kể từ n à nhận đ ợc bản án hoặc bản án đ ợc niêm ết.

Cỡ chữ