- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công Đ phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 185/2024/HS-PT Ngày 29-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Thạch
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Bích Diệp
Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Kim Oanh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 146/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Công Đ do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Công Đ, sinh ngày 12/10/1979 tại Thái Bình; nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ 1, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở hiện nay: Số 19 phố Nguyễn Thiên L, tổ K 4, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị M; có vợ là Trần Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15 tháng 01 năm 2024; có mặt.
- Bị hại: Chị Hoàng Thị M, sinh ngày 12/12/1984; nơi cư trú: Xóm 2, thôn L, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người bào chữa của bị cáo: Ông Trần Hồng Lĩnh – Luật sư Văn phòng Luật sư Lĩnh Chính Thắng - Đoàn Luật sư thành phố Hải Phòng; địa chỉ văn phòng: Số 22/89 phố Lãm Khê, phường Đồng Hòa, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người giám định: Ông Nguyễn Văn Sáu và ông Trần Văn Xuyến – Giám định viên Trung tâm Pháp y Hải Phòng. Ông Xuyến vắng mặt; ông Sáu có mặt.
- Người làm chứng: Ông Lê Duy Chiến, ông Hoàng Đức Hạ; ông Chiến có mặt, ông Hạ vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Xuất phát từ việc gia đình chị Hoàng Thị M (địa chỉ kinh doanh: Số 364 đường Trần Nhân Tông, tổ Kha Lâm 1, phường Nam Sơn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng) chuyển đồ đạc của gia đình, vô tình làm hư hỏng một số hàng hóa trước cửa hàng của Nguyễn Công Đ ở số 362 đường Trần Nhân Tông, tổ Kha Lâm 1, phường Nam Sơn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Dẫn đến, Định và chị M đã phát sinh mâu thuẫn, vì chị M chưa đền bù đầy đủ cho Định theo thỏa thuận ban đầu đối với số hàng hóa bị hư hỏng. Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 15 tháng 9 năm 2023, Định tiếp tục gọi điện thoại giục chị M trả nốt số tiền còn lại thì Định và chị M đã có lời qua, tiếng lại. Do bực tức, Đ một mình đi sang cửa hàng của chị M rồi dùng tay phải tát, đấm vào vùng mặt và đầu chị Mến, gây thương tích cho chị Mến. Sau đó, được người dân vào can ngăn thì Định bỏ đi, chị M được người nhà đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Kiến An, thành phố Hải Phòng.
Tại bản giám định số 727/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 17/10/2023 của Trung tâm Pháp y Hải Phòng, kết luận: Chị Hoàng Thị M bị các thương tích chấn động não, vỡ thành hốc mắt phải, vỡ thành dưới hốc mắt phải. “Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Hoàng Thị M tại thời điểm giám định là 13%. Trong đó: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do chấn động não gây nên là 02%, do vỡ thành hốc mắt phải gây nên là 05%, do vỡ thành dưới hốc mắt phải gây nên là 07%. Các vùng sưng nề bầm tím phần mềm không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Sang chấn nhóm răng cửa hàm trên không có hướng dẫn tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Thương tích trên có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày gây nên”.
Tại Cáo trạng số 65/CT-VKSKA ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Công Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự..
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Công Đ khai nhận: Do chồng của bị hại có hành vi làm hư hỏng tài sản của bị cáo nhưng bị hại không chịu trả nên khoảng hơn 08 giờ ngày 15 tháng 9 năm 2023, sau khi hai bên đã có lời qua, tiếng lại, bị cáo đã có hành vi dùng tay phải tát 1 cái và đấm 1 phát vào vùng mặt của bị hại, gây thương tích cho bị hại như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An đã truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tuy nhiên bị cáo thấy tỷ lệ thương tích mà bị cáo gây ra cho bị hại theo kết luận giám định của Trung tâm Pháp y Hải Phòng là cao, vì vậy bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để giám định lại. Bị cáo không đồng ý với yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại đưa ra.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng đã căn cứ khoản 1 Điều 134, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Công Đ phạm tội "Cố ý gây thương tích", xử phạt bị cáo Nguyễn Công Đ 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các điều 584, 585, 586, 590, 357 và 468 Bộ luật Dân sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Công Đ phải bồi thường cho bị hại Hoàng Thị M số tiền là 40.792.379 đồng.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Công Đ kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để tiến hành giám định lại thương tích của bị hại Hoàng Thị Mến; bị hại cũng có kháng cáo nhưng quá hạn và không được chấp nhận.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Công Đ không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Công Đ khai nhận đã có hành vi dùng tay tát 01 cái, đấm 01 cái vào vùng mặt của bị hại như nội dung Bản án sơ thẩm đã nêu nhưng hành vi của bị cáo không thể gây ra cho bị hại tổn thương 13%. Bởi lẽ, kết quả chụp cắt lớp sọ não không thấy hình ảnh tụ máu nội sọ, không tổn thương xương hộp sọ, không tổn thương xương nền sọ, không tụ máu nội sọ, không đụng dập nhu mô não, chưa thấy bất thường trên bản ghi điện não nên kết luận “tổn thương do chấn động não 02%” là không có căn cứ. Kết quả chụp cắt lớp sọ não tại Bệnh viện Kiến An ghi “hình ảnh vỡ thành sàng xoang sàng phải và thành trên xoang hàm phải. Nội soi tai mũi họng: Chấn thương mũi xoang, tụ máu xoang sàng hàm phải nhưng Giám định viên lại thay đổi thành gãy xương thành dưới và thành trong hốc mắt phải và kết luận “vỡ thành trong hốc mắt phải 05%, vỡ thành dưới hốc mắt phải 07%” là không có căn cứ. Mặt khác Thông tư 22/2019 của Bộ Y tế quy định “vỡ xương ổ mắt không ảnh hưởng thị lực” là một tổn thương tỷ lệ từ 05% đến 07% nhưng Giám định viên kết luận thành 02 tổn thương là không đúng; đề nghị giám định chữ ký của Bác sỹ Hoàng Đức Hạ trên Phiếu yêu cầu khám chuyên khoa ngày 11 tháng 10 năm 2023. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tuyên huỷ án sơ thẩm để tiến hành giám định lại thương tích của bị hại Hoàng Thị Mến. Về việc bồi thường thiệt hại cho bị hại: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã gặp bị hại để bồi thường dân sự nhưng bị hại không đồng ý vì vậy bị cáo đã không bồi thường được cho bị hại.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định bị cáo Nguyễn Công Đ đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và xử phạt bị cáo Nguyễn Công Đ 06 tháng tù về tội danh nêu trên là phù hợp với pháp luật. Việc bị cáo cho rằng Kết luận giám định số 727/2023/KLTTCT-TTPYHP không đúng với tỷ lệ tổn thương bị cáo đã gây ra cho bị hại và đề nghị huỷ án sơ thẩm để tiến hành giám định lại là không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 355, 356 Bộ luật Tố tụng hình sự giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo.
Người bào chữa của bị cáo trình bày: Về những căn cứ cho rằng Bản kết luận giám định số 727/2023/KLTTCT-TTPYHP là trái pháp luật như bị cáo đã trình bày là đúng nên đề nghị Hội đồng xét xử huỷ án sơ thẩm để tiến hành giám định lại thương tích của bị hại. Việc Giám định viên sử dụng Phiếu chỉ định khám chuyên khoa viết tay là không đúng quy định của Bộ Y tế, đề nghị tiến hành giám định chữ ký, chữ viết trên Phiếu chỉ định khám chuyên khoa có phải chữ ký, chữ viết của bác sỹ Hoàng Đức Hạ hay không?.
Người làm chứng, bác sỹ Lê Duy Chiến trình bày: Bác sỹ là người thực hiện việc chụp cắt lớp vi tính cho bị hại Hoàng Thị M vào lúc 09 giờ 25 phút ngày 15 tháng 9 năm 2023. Kết quả chụp cho thấy: Hình ảnh vỡ thành sàng xoang sàng phải và thành trên xoang hàm phải; tụ dịch xoang hàm phải. Theo giải phẫu học, thành dưới hốc mắt phải được tạo bởi thành trên xoang hàm phải và thành trên hốc mắt phải được tạo bởi thành sàng xoang sàng phải.
Người làm chứng, bác sỹ Hoàng Đức Hạ vắng mặt nhưng có văn bản: Xác nhận đã thực hiện việc khám chuyên khoa theo Phiếu yêu cầu khám chuyên khoa của Giám định viên và thừa nhận chữ ký trên Phiếu yêu cầu khám chuyên khoa là của bác sỹ, kết quả chụp phim theo yêu cầu của Giám định viên phù hợp với thương tích của bị hại tại thời điểm chấn thương. Theo giải phẫu học, thành dưới hốc mắt phải được tạo bởi thành trên xoang hàm phải và thành trên hốc mắt phải được tạo bởi thành sàng xoang sàng phải.
Giám định viên khẳng định bị cáo đã gây ra thương tích cho bị hại ở thành trên xoang hàm phải (là thành dưới hốc mắt phải) và thành sàng xoang sàng phải (là thành trên hốc mắt phải) nên thương tích trên mỗi xương được tính một tỷ lệ từ 05 đến 07% theo quy định của Thông tư 22/2019 của Bộ Y tế. Vì vậy Kết luận giám định là hoàn toàn khách quan và đúng quy định của pháp luật, phù hợp với thương tích ban đầu của bị hại theo hồ sơ bệnh án của Bệnh viện Kiến An.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Ngày 05 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án, tại phiên tòa Nguyễn Công Đ có mặt. Vì vậy, ngày 10 tháng 8 năm 2024, Nguyễn Công Đ có đơn kháng cáo là trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị hại Hoàng Thị M có kháng cáo quá hạn nên không được chấp nhận.
Về hành vi khách quan: Xét thấy lời khai của bị cáo Nguyễn Công Đ tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Xuất phát từ việc chồng bị hại làm hư hỏng tài sản và bị cáo đã nhiều lần yêu cầu bị hại trả tiền nên sáng ngày 15 tháng 9 năm 2023, sau khi hai bên có lời qua tiếng lại, bị cáo đã có hành vi dùng tay phải đấm, tát vào vùng đầu, mặt của chị Hoàng Thị M tại nhà số 364 đường Trần Nhân Tông, phường Nam Sơn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng gây ra thương tích cho bị hại.
Xét về tính hợp pháp của Kết luận giám định số 727/2023/KLTTCT-TTPYHP của Trung tâm Giám định Pháp y Hải Phòng: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo thừa nhận kết quả chụp cắt lớp sọ não tại Bệnh viện Kiến An là có căn cứ. Hội đồng xét xử xét thấy, theo hồ sơ bệnh án số lưu trữ 17168 của Bệnh viện Kiến an thể hiện bị hại bị chấn động não, tụ máu mi mắt phải, vỡ thành xoang hàm phải; Glassgow 13 điểm; chẩn đoán khi vào khoa điều trị: Tổn thương nội sọ. Do vậy, kết luận bị hại bị tổn thương cơ thể do chấn động não gây nên là 02% là có căn cứ phù hợp với quy định tại mục 1 Phần II Chương 1 của Thông tư số 22/2019. Theo giải phẫu cơ thể người, thành dưới hốc mắt phải được tạo bởi thành trên xoang hàm phải, thành trên hốc mắt phải được tạo bởi thành xoang sàng phải và bị cáo gây ra thương tích cho bị hại ở xương hàm trên và xương sàng nên được tính tỷ lệ tổn thương trên hai xương là phù hợp với quy định tại mục 1 Phần XIII Chương 10 của Thông tư số 22/2019. Theo từ điển Việt – Việt thì “vỡ là rời ra thành nhiều mảnh do tác động của lực cơ học”; “gãy là bị phân ra thành nhiều phần do tác dụng đột ngột của lực cơ học”, trong trường hợp này, do bị cáo đấm, tát nên xương hàm trên và xương sàng của bị hại đã chịu lực tác động dẫn đến bị rời ra và phân thành nhiều phần nên việc dùng từ “gãy” hoặc “vỡ” là đồng nghĩa. Do đó, Kết luận giám định số 727/2023/KLTTCT-TTPYHP của Trung tâm Giám định Pháp y Hải Phòng đã kết luận “tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do chấn động não gây nên là 02%, do vỡ thành hốc mắt phải gây nên là 05%, do vỡ thành dưới hốc mắt phải gây nên là 07%” là phù hợp. Giám định viên đã sử dụng phương pháp tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể bị hại theo đúng khoản 1 Điều 4 Thông tư số 22/2019 của Bộ Y tế nên có đủ căn cứ xác định “Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Hoàng Thị M tại thời điểm giám định là 13%”.
Xét về tội danh: Bị cáo Nguyễn Công Đ đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây nên tâm lý lo ngại trong nhân dân. Thương tích bị cáo gây ra cho bị hại là 13% và bị hại có yêu cầu khởi tố vụ án nên hành vi của bị cáo Nguyễn Công Đ đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi gây ra thương tích cho bị hại nhưng không có thái độ ăn năn, hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặc dù bị cáo đã gây ra thương tích cho bị hại nhưng đã không có ý thức khắc phục hậu quả và chỉ nộp vào Chi cục Thi hành án số tiền 2.000.000 đồng để khắc phục hậu quả; số tiền này rất nhỏ so với thiệt hại do bị cáo gây ra cho bị hại nên bị cáo chỉ được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sức khoẻ của con người luôn được nhà nước quan tâm, bảo hộ dưới nhiều hình thức, nhiều cách thức vì vậy, hành vi gây tổn hại sức khoẻ cho bị hại không được coi là “gây thiệt hại không lớn”. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận đề nghị của người bào chữa về việc cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công Đ: Bị cáo Nguyễn Công Đ kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử huỷ án sơ thẩm để giám định lại, Hội đồng xét xử xét thấy việc giám định mức độ tổn hại sức khoẻ của bị hại, cơ chế hình thành vết thương đã tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu giám định lại của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo về việc huỷ án sơ thẩm để thực hiện giám định lại. Hội đồng xét xử xét thấy, Phiếu chỉ định khám chuyên khoa đã được bác sỹ Hoàng Đức Hạ xác nhận đã ký, ghi rõ họ tên và Phiếu chỉ định được viết tay hoặc được đánh máy không làm thay đổi bản chất của vụ án nên không có căn cứ chấp nhận quan điểm của người bào chữa cho bị cáo tại phiên toà phúc thẩm về đề nghị trưng cầu giám định để xác định chữ ký, chữ viết của bác sỹ Hoàng Đức Hạ trên Phiếu chỉ định khám chuyên khoa.
Về hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Công Đ: Mặc dù trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo không tỏ ra ăn năn hối cải nên Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo để xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” là phù hợp. Giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên cần giữ nguyên mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên. Việc bị cáo cho rằng không thực hiện được việc bồi thường do bị hại không đồng ý là không có căn cứ, bởi lẽ bị cáo hoàn toàn có thể chủ động khắc phục hậu quả bằng cách nộp số tiền trên tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An để khắc phục hậu quả nếu bị hại không đồng ý nhận tiền bồi thường.
Về trách nhiệm dân sự: Toà án cấp sơ thẩm đã buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại chi phí điều trị là 13.432.379 đồng; chi phí bồi dưỡng sức khỏe là 1.920.000 đồng; chi phí đi lại để cấp cứu, điều trị là 300.000 đồng; tiền thu nhập bị mất trong thời gian điều trị là 7.500.000 đồng; tiền thu nhập bị mất của người chăm sóc 3.600.000 đồng và tổn thất về tinh thần bằng 06 tháng lương cơ sở là 14.040.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại là: 40.792.379 đồng. Tuy nhiên, trước khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã nộp 2.000.000đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An để bồi thường cho bị hại nhưng Toà án cấp sơ thẩm đã không đối trừ số tiền này vào nghĩa vụ bồi thường của bị cáo là thiếu sót. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chi trả cho bị hại số tiền 2.000.000đồng trên và buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền còn lại là 38.792.379 đồng. Do vậy cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự để sửa án sơ thẩm.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.
Về án phí: Như phân tích ở mục [8], cấp sơ thẩm đã có thiếu sót không đối trừ số tiền bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An trước khi xét xử sơ thẩm và đã tính án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải chịu trên số tiền 40.792.379 đồng là chưa chính xác nên cần sửa lại phần án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải chịu. Do bản án sơ thẩm bị sửa nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công Đ, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng; giữ nguyên hình phạt và sửa phần bồi thường thiệt hại, phần án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Công Đ.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 134, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Công Đ 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Nguyễn Công Đ cho đến khi đi thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các điều 584, 585, 586, 590, 357 và 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 48 của Bộ luật Hình sự,
Buộc bị cáo Nguyễn Công Đ phải bồi thường cho bị hại Hoàng Thị M số tiền là 40.792.379 (bốn mươi triệu, bảy trăm chín mươi hai nghìn, ba trăm bảy mươi chín) đồng. Bị cáo đã bồi thường 2.000.000đồng (hai triệu đồng ) nên còn phải tiếp tục bồi thường 38.792.379 (ba mươi tám triệu, bảy trăm chín mươi hai nghìn, ba trăm bảy mươi chín) đồng.
Chi trả cho bị hại Hoàng Thị M số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An ( Biên lai thu tiền số 0004388 ngày 15 tháng 7 năm 2024)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Công Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.939.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Công Đ không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Hải Phòng; - CQTHAHS - Công an quận Kiến An; - CQCSĐT - Công an quận Kiến An; - Chi cục THADS quận Kiến An; - VKSND quận Kiến An; - TAND quận Kiến An; - Sở Tư pháp Tp. Hải Phòng; - PV06; PC10 Công an thành phố Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Duy Thạch |