vanban.org

Bản án 185/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ X B N CÁT
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2022/HS-ST.
Ngày: 16-11-2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA X HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ X B N CÁT, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Đặng;

2. Bà Bồ Thị Ánh Tuyết.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2022; tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 178/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2022/QĐXXST-HS ngày 04/11/2022 đối với bị cáo:

Ngô Minh Thanh P (tên gọi khác: không), sinh ngày 11/3/ 2001, tại tỉnh Đồng Tháp; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm 2, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; chổ ở: Khu phố 2, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Ngô Q và Bùi Thị D; tiền án, tiền sự: Không; ngày 23/4/2022, bị cáo P ra đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát cho đến nay.

Bị hại: Ông Huỳnh Thanh K, sinh năm 1993; hộ khẩu thường trú: Khu phố 8, phường Chánh Phú Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Trương Quang V, sinh ngày 03/3/2001; trú tại: Khu phố 5, thị trấn P, huyện Phú G, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

2. Võ Thị L, sinh năm 1963; trú tại: Khu phố 2, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 23/4/2022, P rủ Trương Quang V đi trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì V đồng ý và điều khiển xe mô tô hiệu Liran biển số 61T5-9136 chở P đi. Khoảng 00 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến phía trước nhà trọ Tuấn Duy thuộc khu phố 3, phường Chánh Phú Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, P và V phát hiện bên trong sân nhà trọ Tuấn Duy có nhiều con gà đư c nhốt trong lồng, không có người trông coi nên V dừng xe lại bên lề đường đứng cảnh giới, còn P lén lút đi vào bên trong bắt trộm đư c 01 con gà lông màu vàng, nặng khoảng 2,5 kg của anh Huỳnh Xuân K rồi quay ra ngồi lên xe cho V điều khiển chạy hướng đến đường DT741. Lúc này, anh K phát hiện P bắt trộm gà của mình nên điều khiển xe mô tô hiệu Wave biển số 61H9-4969 đuổi theo. Trên đường tẩu thoát, P kêu V dừng xe lại để P điều khiển xe chở V, ngồi sau ôm con gà vừa trộm đư c vì P biết đường thì V đồng ý. Khi anh K chạy xe đư c một đoạn khoảng 200m đến ngã ba đường, trước tiệm sửa xe Hoàng Nhựt thuộc khu phố 3, phường Chánh Phú Hòa thì phát hiện P đang điều khiển chở V chạy xe theo chiều ngư c lại. Anh K liền điều khiển xe mô tô biển số 61H9-4969 chặn đầu xe mô tô biển số 61T5-9136, ép vào cánh cửa kéo của tiệm sửa xe Hoàng Nhựt làm cả hai xe cùng ngã xuống. Anh K nói “mày bắt trộm gà của tao phải không” thì P nói “gà gì em không biết”, anh K liền xuống xe dùng tay đấm 01 cái vào đầu P. V thấy vậy s nên vứt con gà vừa trộm đư c xuống đường. Lúc này, P s K bắt giữ mình nên hù dọa, nói với V “lấy dao dâm chết mẹ nó cho tao”. Anh K nghe vậy nên hoảng s , bỏ chạy một đoạn khoảng 20m, đứng nhìn về phía P và truy hô. Thấy vậy, P dựng xe mô tô biển số 61T5-9136 lên đạp khởi động máy nhiều lần nhưng không đư c. Lúc này, P thấy 01 người đàn ông đi từ tiệm sửa xe Hoàng Nhựt ra thì s bị bắt giữ nên nảy sinh ý định lấy xe mô tô biển số 61H9-4969 của anh Kiệt để tẩu thoát, Phong bỏ xe mô tô biển số 61T5-9136 lại rồi chạy lại dựng xe mô tô biển số 61H9-4969, ngồi lên khởi động máy, nhanh chóng điều khiển chạy đi. V thấy P điều khiển xe mô tô biển số 61H9-4969 bỏ chạy, do s bị người dân bắt giữ nên liền chạy theo leo lên xe cho P chở chạy tẩu thoát.

Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, P và V mang xe mô tô biển số 61H9-4969 đến Công an phường Chánh Phú Hòa, thị xã Bến Cát đầu thú. Sau đó, vụ việc đư c chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giải quyết theo thẩm quyền. (Bút lục 135; 136; 137-138; 145-146)

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô hiệu Wave, màu đỏ biển số 61H9-4969.

- 01 xe mô tô hiệu Wave Liran màu đỏ, biển số 61T5-9136

Theo Kết luận định giá ngày 29/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Bến Cát, kết luận: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ, biển số 61H9-4969 trị giá 10.600.000 đồng. (Bút lục 52)

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 18/7/2022 của Hộ đồng định giá tài sản thị xã Bến Cát, kết luận: 01 con gà trống màu vàng trọng lư ng 2,5 kg trị giá 325.000 đồng. (Bút lục 54)

Đối với xe mô tô hiệu Wave, biển số 61H9-4969 do ông Nguyễn Thanh H (sinh năm 1971, nơi thường trú: khu phố 3, phường Chánh Phú Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương) đứng tên đăng ký. Ông H cho con rể là Huỳnh Xuân K để làm phương tiện đi lại. Ngày 08/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả xe cho ông Huỳnh Xuân K. (Bút lục: 92-102)

Đối với xe mô tô Wave hiệu Liran màu đỏ, biển số 61H5-9136 do bà Võ Thị L đứng tên đăng ký. Bà Lành cho anh Phạm Thanh T (sinh năm 2000, nơi thường trú: khu phố 3, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương) để làm phương tiện đi lại. Ngày 23/4/2022, anh T cho Trương Quang V mư n xe đi công chuyện. Ngày 09/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả cho bà Võ Thị L. (Bút lục: 103-113)

Ngày 19/9/2022, Công an thị xã Bến Cát ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Ngô Minh Thanh P và Trương Quang V, mỗi người phải nộp phạt số tiền 2.500.000 đồng đối với hành vi trộm cắp tài sản. (Bút lục 158-160)

Về trách nhiệm dân sự: Ông Huỳnh Xuân K không yêu cầu giải quyết.

Cáo trạng số 182/CT-VKSBC ngày 18/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đã quyết định truy tố bị cáo Ngô Minh Thanh P về tội “cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận: Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã mô tả. Bị cáo không có ý kiến gì đối với Kết luận định tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, không có ý kiến gì đối với nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngô Minh Thanh P phạm tội: “Cướp giật tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 02 năm tù.

Về biện pháp tư pháp: Đã giải quyết xong.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo đư c về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại và người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.

2 Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù h p với lời khai của bị hại, phù h p với sự thật khách quan của vụ án và các tài liệu, chứng cứ đã đư c thu thập có trong hồ sơ vụ án.

2.2 Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật hình sự nhưng bị cáo vẫn ngoan cố thực hiện, thể hiện ý thức liều lĩnh và xem thường pháp luật.

Hành vi dùng lời nói hù dọa làm cho bị hại lo s bỏ chạy để bị cáo công khai, nhanh chóng chiếm đoạt xe mô tô biển số 61H9-4969 trị giá 10.600.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt đư c quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Do đó, bản Cáo trạng số 182/CT-VKSBC ngày 18/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát cũng như ý kiến luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

3 Xét về tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo: Bị cáo tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe nhưng lại có suy nghỉ chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài cá nhân; bị cáo rủ V đi trộm cắp tài sản, sau khi trộm cắp tài sản (một con gà) bị phát hiện thì bị cáo không biết sửa sai mà lại tiếp tục chiếm đoạt xe mô tô của bị hại để tầu thoát. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm đối với xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại và còn gây mất an ninh trật tự tại nơi xảy ra vụ án nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

4 Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

4.2 Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú nên bị cáo đư c hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.

5 Xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù h p, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

6 Đối với hành vi trộm cắp 01 con gà trị giá 325.000 đồng của bị cáo P và người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã bị xử Công an thị xã Bến Cát xử phạt hành chính là phù h p với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về biện pháp tư pháp: Tài sản đã thu hồi giao trả cho bị hại và người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về chi phí tố tụng: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUY T ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Ngô Minh Thanh P phạm tội: “Cướp giật tài sản”.

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Ngô Minh Thanh P 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2022.

3. Về biện pháp tư pháp: Đã giải quyết xong.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo đư c quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại và người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đư c quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Bản án đư c tống đạt h p lệ theo quy định của pháp luật./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Dương;

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND tỉnh Bình Dương;

- PV27, Công an tỉnh Bình Dương;

- Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;

- VKSND thị xã Bến Cát;

- Công an thị xã Bến Cát;

- Chi cục THADS thị xã Bến Cát;

- Người tham gia tố tụng;

- Lưu: HS, VT.

Nguyễn Văn Phƣơng

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thắm Nguyễn Hoàng Vinh

Nguyễn Văn Phƣơng Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Dương;

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND tỉnh Bình Dương;

- PV27, Công an tỉnh Bình Dương;

- Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;

- VKSND thị xã Bến Cát;

- Công an thị xã Bến Cát;

- Chi cục THADS thị xã Bến Cát;

- Người tham gia tố tụng;

- Lưu: HS, VT.

Nguyễn Văn Phƣơng

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thắm Nguyễn Kim Lý

Nguyễn Văn Phƣơng

Cỡ chữ