- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị Thanh T - Đoàn Minh P"
- Tòa quyết gì? Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Thanh T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 185/2022/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 07 - 2022 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Đức Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Mạnh Nhanh ông Nguyễn Đại Đồng.
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Duy Quang – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: bà Lê Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 07 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 94/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2022/QĐXX-ST ngày 30 tháng 06 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15/07/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Hoàng Thị Thanh T, sinh năm 1989.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 21, ngách 298/20, quận L, thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: anh Đoàn Minh P, sinh năm 1985.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội.
(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Hoàng Thị Thanh T trình bày:
Chị và anh Đoàn Minh P tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 10/02/2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc một thời gian ngắn rồi bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xung đột. Thực tế vợ chồng đã ly thân từ năm 2021 đến nay, không còn quan tâm hoặc có trách nhiệm gì với nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn anh Đoàn Minh P.
Về con chung: chị và anh P có một con chung là cháu Đoàn Hoàng Linh N, sinh ngày 13/9/2020. Từ khi vợ chồng sống ly thân con chung ở với chị. Nay ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N và không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công sức và nợ chung: chị xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía Bị đơn là anh Đoàn Minh P: hiện có hộ khẩu và đang cư trú tại thôn T, xã L, huyện M. Tuy nhiên Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh P đều vắng mặt không lý do, cũng như không có văn bản trình bày quan điểm, ý kiến.
Các văn bản tố tụng của Tòa án đã được giao cho bố đẻ của anh P là ông Đoàn Tiến V. Ông V nhận trách nhiệm giao tận tay các văn bản tố tụng của Tòa án và thông báo cho anh P ngay trong ngày. Đồng thời ông Đoàn Tiến V cũng trình bày lời khai với tư cách người làm chứng như sau: anh Đoàn Minh P và chị Hoàng Thị Thanh T tự nguyện kết hôn, có đăng ký. Cuộc sống chung của vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp. Các văn bản của Tòa án ông đã giao đầy đủ tận tay cho anh P, quan điểm của anh P là nhất trí ly hôn và đồng ý giao con cho chị T nuôi dưỡng. Anh P và chị T không có tài sản, công sức và nợ chung; anh P đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Xác minh tại địa phương ngày 28/6/2022 thể hiện: anh P và chị T đăng ký kết hôn ngày 10/2/2017 tại Ủy ban nhân dân xã T trên cơ sở tự nguyện. Anh P vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú và thường xuyên sinh sống tại thôn T, xã L. Do vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn của anh P và chị T theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn Hoàng Thị Thanh T đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn Đoàn Minh P dù được triệu tập và giao các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng đều không đến làm việc, nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: xét thấy mâu thuẫn giữa các đương sự đã kéo dài, cuộc sống chung không tồn tại, hôn nhân không đạt được mục đích nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Hoàng Thị Thanh T được ly hôn anh Đoàn Minh P.
Về con chung: xét thấy con chung chưa đủ 36 tháng tuổi, từ khi vợ chồng ly thân vẫn ở với mẹ nên đề nghị giao cháu Đoàn Hoàng Linh N, sinh ngày 13/9/2020 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công sức và nợ chung: chị T trình bày không có và không yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí: chị Hoàng Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: chị Hoàng Thị Thanh T khởi kiện xin ly hôn anh Đoàn Minh P có hộ khẩu và nơi cư trú tại thôn Trung xã Thượng Lâm, huyện Mỹ Đức, đã nộp tạm ứng án phí là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh P dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng đều không đến làm việc. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo thủ tục chung.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị Thanh T và anh Đoàn Minh P tự nguyện kết hôn, có đăng ký, là hôn nhân hợp pháp. Theo trình bày của chị T cũng như xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T và ý kiến cung cấp của ông Đoàn Văn V là bố đẻ của anh P cho thấy: do bất đồng quan điểm lối sống, không tìm được tiếng nói chung nên cuộc sống của vợ chồng không có hạnh phúc, thường xảy ra mâu thuẫn, gia đình đã hòa giải nhưng không có kết quả. Thực tế từ năm 2021 đến nay vợ chồng đã sống ly thân.
Xét thấy các quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh P bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của chị T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: xét yêu cầu nuôi con chung Đoàn Hoàng Linh N, sinh ngày 13/9/2020 của chị T thì thấy: từ khi vợ chồng ly thân, cháu N vẫn ở cùng chị T, được chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định và phát triển bình thường. Hiện nay cháu N chưa đủ 36 tháng, vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của chị T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, theo đó tiếp tục giao cháu Đoàn Hoàng Linh N cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công sức và nợ chung: chị T xác nhận không có và không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: chị Hoàng Thị Thanh T chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Chương III Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Thanh T.
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị Thanh T được ly hôn anh Đoàn Minh P.
2. Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là cháu Đoàn Hoàng Linh N, sinh ngày 13/09/2020, đang ở với chị Hoàng Thị Thanh T. Sau ly hôn, giao cháu Đoàn Hoàng Linh N cho chị Hoàng Thị Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hoàng Thị Thanh T không yêu cầu anh Đoàn Minh P cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Đoàn Minh P có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: chị Hoàng Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0038887 ngày 25/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Mỹ Đức; - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức; - UBND xã Thượng Lâm; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Đức Hiệp |