- Tranh chấp gì? án hình sự — "lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN T PHỐ B TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 185/2021/HS-ST Ny 04 tháng 11 năm 2021 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T PHỐ B
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu H
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Hoàng Văn Tuân
2. Bà Nguyễn Thị Vượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Tện - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố B tham gia phiên tòa: Bà Đặng Minh H - Kiểm sát viên.
Trong Ny 04 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân T phố B, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 176/2021/HSST Ny 08 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2021/QĐXXST-HS Ny 14 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1977; Tên gọi khác: Nguyễn Văn Q; Tại: H D. Giới tính: Nam.Nơi Đ ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Mạn Đê, xã Nam Trung, huyện Nam Sách, tỉnh H D.Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do. Văn hóa: 7/12. Con ông: Nguyễn Văn Kim (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Tính, sinh năm 1952. Gia đình có 02 A em, bị cáo là con thứ nhất.Vợ: Nguyễn Thị Hoan, sinh năm 1985. Bị cáo có hai con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2007.
- Tiền án:
+) Tại Bản án số 26/2013/HSST Ny 01/8/2013, Tòa án nhân dân huyện ThA Miện, tỉnh H D xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp Hnh xong hình phạt tù Ny 29/6/2016, đã nộp 700.000 đồng án phí
+) Tại Bản án số 21/2017/HSST Ny 27/4/2017, Tòa án nhân dân huyệnNam Sách, tỉnh H D xử phạt 45 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp Hnh xong hình phạt tù Ny 28/8/2020.
- Tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+) Tại Bản án số 10 Ny 31/5/2001, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh H D xử phạt 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
+) Tại Bản án số 12/2004/HSST Ny 25/6/2004, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh H D xử phạt 27 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
+) Tại Bản án số 48/2006/HSST Ny 16/11/2006, Tòa án nhân dân huyện ThA H, tỉnh H D xử phạt 39 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
+) Năm 2010 bị Công an huyện Nam Sách, tỉnh H D xử phạt vi phạm Hnh Cnh về Hnh vi Đánh bạc.
+) Năm 2013, bị Công an huyện Nam Sách, tỉnh H D xử phạt vi phạm Hnh Cnh về Hnh vi Đánh bạc.
+) Ny 07/9/2021 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái khởi tố bị can về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam kể từ Ny 17/4/2021 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
( Có mặt tại phiên tòa)
2.2. Bị hại:
- Ông Lê Văn H, sinh năm 1974
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: thôn 1 Thống Nhât, xã Xuân D, huyện Thường Xuân, tỉnh ThA Hoá
- A Hoàng Văn N, sinh năm 1994 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Rừng Gai, xã Kiên T, huyện Lục Ngạn, tỉnh B
- A Giáp Văn T, sinh năm 2000 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Đông Khoát, xã Việt Lập, huyện Tân Yên, tỉnh B
- A D Văn T, sinh năm 1992 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Bản Na Lu, xã Xuân Lương, huyện Yên Thế, tỉnh B
2.3. Người có quyền lợi N vụ liên quan:
- A Lê Sỹ G, sinh năm 1979
(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn 1 Thống Nhât, xã Xuân D, huyện Thường Xuân, tỉnh ThA Hoá
- A Trần Văn Hoà, sinh năm 1977
(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn 2, xã Thọ ThA, huyện Thường Xuân, tỉnh ThA Hoá
- A Nguyễn Văn L, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu 1, thị trấn Lam S, huyện Thọ Xuân, tỉnh ThA Hoá
- A Lê Đình T, sinh năm 1986
(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn 1, xã Thọ ThA, huyện Thường Xuân, tỉnh ThA Hoá
- Ông Lê Gia V, sinh năm 1963
(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn H Mậu, xã Thọ H, huyện Thọ Xuân, tỉnh ThA Hoá
- Ông Lê Trọng T, sinh năm 1962 (Vắng mặt)
ĐC: thôn 1 Yên Lược, xã T Minh, huyện Thọ Xuân, tỉnh ThA Hoá
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
ĐC: thôn 2 Yên Lược, xã T Minh, huyện Thọ Xuân, tỉnh ThA Hoá
- A Hứa Văn D, sinh năm 1981
(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Trại Mới, xã Kiên T, huyện Lục Ngạn, tỉnh B
- A Triệu Văn H, sinh năm 1991
(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Rừng Gai, xã Kiên T, huyện Lục Ngạn, tỉnh B
- A Nguyễn Văn H, sinh năm 1997 (Vắng mặt)
Địa chỉ: bản Mùi Phú, xã Kiên T, huyện Lục Ngạn, tỉnh B
- Ông Kiều Viết C, sinh năm 1964
(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn H Yên, xã Trù Hựu, huyện Lục Ngạn, tỉnh B
- Chị Vi Thị V A, sinh năm 1993
(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Mào Gà, xã Phượng S, huyện Lục Ngạn, tỉnh B
- Chị Lê Thị Hạnh, sinh năm 1988
(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Kim 3, xã Phương S, huyện Lục Ngạn, tỉnh B
- Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1968(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Ải, xã Phượng S, huyện Lục Ngạn, tỉnh B
- A Hoàng Văn N, sinh năm 1994 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Rừng Gai, xã Kiên T, huyện Lục Ngạn, tỉnh B
- A Đặng Văn Đ, sinh năm 1985
(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Lý, xã Việt Lập, huyện Tân Yên, tỉnh B
- A Nguyễn Văn G, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Lý, xã Việt Lập, huyện Tân Yên, tỉnh B
- A Đặng Đình Cường, sinh năm 2000
(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn 4, xã Việt Lập, huyện Tân Yên, tỉnh B
- Ông Ngô Thế Tin, sinh năm 1958
(Vắng mặt)
Địa chỉ: Số nH 43, đường Tân Mai, phường Đa Mai, T phố B, tỉnh B
- Ông Lương Văn Huy, sinh năm 1960
(Vắng mặt)
Địa chỉ: Số nH 25, tổ 6, phường Trần Nguyên Hãn, T phố B, tỉnh B
- A Ngô Thế A, sinh năm 1986
(Vắng mặt)
Địa chỉ: tổ Tân Mai, phường Đa Mai, TP B, tỉnh B
- Chị Trần Thị Hảo, sinh năm 1983
(Vắng mặt)
Địa chỉ: tổ Tân T, phường Đa Mai, TP B, tỉnh B
- A Nguyễn Long G, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
Địa chỉ: khu Tam Tầng, xã Q Châu, huyện Việt Yên, tỉnh B
- Chị Thân Thị Hương, sinh năm 1993
(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Như Tết, xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, tỉnh B
- Chị Lê Thị G, sinh năm 1991
(Vắng mặt)
Địa chỉ: số nH 45, phố Dục Q, thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh B
- A Lò Văn Khoa, sinh năm 1989
(Vắng mặt)
Địa chỉ: xã Mường Và, huyện Sốp Cộp, tỉnh S La
- A D Văn Quế, sinh năm 1980
(Vắng mặt)
Địa chỉ: Bản Na Lu, xã Xuân Lương, huyện Yên Thế, tỉnh B
- A D Văn Hồi, sinh năm 1982
(Vắng mặt)
Địa chỉ: Bản Na Lu, xã Xuân Lương, huyện Yên Thế, tỉnh B
- A Bàn Tài T, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Bãi Bông, xã Hợp Tiến, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
- A Lương Bảo S, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Địa chỉ: TDP Hoà Bình, thị trấn Bố Hạ, huyện Yên Thế, tỉnh B
- Chị Trần Thị ThA, sinh năm 1973 (Vắng mặt)
- A Phạm Hồng S,sinh năm 1972
(Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: thôn Sỏi, xã Tân Sỏi, huyện Yên Thế, tỉnh B
- A Nguyễn Văn N, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Địa chỉ: TDP Dinh Tiến, thị trấn Bố Hạ, huyện Yên Thế, tỉnh B
- A Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Cây Gạo, xã Đồng Lạc, huyện Yên Thế, tỉnh B
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hồng Q (tên gọi khác Nguyễn Văn Q), sinh năm 1977, trú tại thôn Mạn Đê, xã Nam Trung, huyện Nam Sách, tỉnh H D là người có tiền án về Hnh vi chiếm đoạt tài sản, bản thân Q không có nghề nghiệp gì. Trong khoảng thời gian từ Ny 08/3/2021 đến Ny 28/3/2021, bằng thủ đoạn giả vờ thuê người bốc vác Hng hóa là vụn gỗ, mùn cưa, Nguyễn Hồng Q đã thực hiện 04 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài tài sản trên địa bàn huyện Yên Thế, huyện Lục Ngạn, T phố B, tỉnh B và huyện Thọ Xuân, tỉnh ThA Hóa. Cụ thể như sau:
1. Hnh vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại địa bàn huyện Thọ Xuân, tỉnh ThA Hóa:
Khoảng 17 giờ 10 phút Ny 08/3/2021, Nguyễn Hồng Q một mình đến nH A Lê Văn H sinh năm 1974, trú tại thôn 1 Thống Nhất, xã Xuân D, huyện Thường Xuân, tỉnh ThA Hóa. Q tự giới Tệu tên là Hưng nH ở Bỉm S rồi đặt vấn đề thuê và nhờ A H tìm 02 người khác đi đóng mùn cưa trên địa bàn huyện Thọ Xuân vào sáng Ny 09/3/2021, A H đồng ý, hẹn gặp nhau tại khu vực dốc Hương, xã Thọ H, huyện Thọ Xuân, tỉnh ThA Hóa. Khoảng 7 giờ 30 phút Ny 09/3/2021, A H cùng em trai là Lê Sỹ G sinh năm 1979 trú tại thôn 1 Thống Nhất, xã Xuân D, huyện Thường Xuân và A Trần Văn H, sinh năm 1977 trú tại thôn 2, xã Thọ ThA, huyện Thường Xuân là em vợ của A H đi hai xe mô tô đến dốc Hương thì Q ra đón và đưa vào nH ông Lê Gia V sinh năm 1963 trú tại thôn H Mậu, xã Thọ H, huyện Thọ Xuân để đóng mùn cưa. Tại nH ông V, Q G cho A H và A G ở lại đóng mùn cưa và bảo A H điều khiển xe mô tô chở Q sang xã T Minh, huyện Thọ Xuân để tìm xưởng gỗ có mùn cưa để thu mua tiếp. Sau khi đặt vấn đề với các điểm bán thì Q và A H quay lại nH ông V. Lúc này Q bảo A H và A G đi cùng Q sang xã T Minh để đóng mùn cưa. Khi đến xưởng gỗ nH ông Lê Trọng T, sinh năm 1962 trú tại Thôn 1 Yên Lược, xã T Minh, huyện Thọ Xuân, Q bảo A G ở lại đóng mùn cưa, còn A H tiếp tục đi theo Q đến xưởng gỗ của chị Nguyễn Thị H sinh năm 1986 trú tại thôn 2 Yên Lược, xã T Minh, huyện Thọ Xuân. Tại đây, Q hỏi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamah Sirius Fi, biển kiểm soát 36M1 - 038.77 của A H, Q nói mượn xe để đi đón xe ô tô đưa về bốc Hng, và nói dối điện thoại của mình bị hỏng nên mượn chiếc điện thoại Nokia 105 của A H. Để A H không nghi ngờ, Q nhờ chị H đi cùng để chỉ đường, A H đã đồng ý cho Q mượn xe và điện thoại. Q điều khiển xe mô tô 36M1 - 038.77 chở chị H ngồi sau đi lên ngã tư Lam Kinh, thị trấn Lam S, huyện Thọ Xuân thì Q bảo chị H xuống xe đợi Q ở đó. Sau đó, Q một mình điều khiển xe đi đến thị trấn Lam S để tìm nơi tiêu thụ xe. Trên đường đi Q dừng lại mở cốp xe kiểm tra thì phát hiện bên trong có: 01 Đ ký xe môtô, xe máy số 002176, biển số Đ ký 36M1- 038.77 mang tên Lê Văn H; 01 chứng minh thư nhân dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1và 01 Đ ký xe mô tô, xe máy số 081628, biển số Đ ký 36R7 – 8365 mang tên Lê Văn H. Q điều khiển xe đi đến cửa Hng xe máy Ngọc L có địa chỉ cửa Hng ở khu 1, thị trấn Lam S, huyện Thọ Xuân, tỉnh ThA Hóa của A Nguyễn Văn L sinh năm 1982. Tại đây Q cất 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe, 01 Đ ký xe mô tô của xe mô tô 36R7-8365 mang tên Lê Văn H vào trong túi quần còn giấy tờ xe và chiếc xe mô tô 36M - 038.77 Q G cho A L và viết “Giấy bán xe” đề Ny 09/3/2021 cho A L, ký tên “Lê Văn H”, được số tiền 5.300.000 đồng. Bán xe xong, Q bắt xe taxi của A Lê Đình T sinh năm 1986 trú tại thôn 1, xã Thọ ThA, huyện Thọ Xuân đi đến khu vực bến xe khách TNT ở thị trấn Thọ Xuân để bắt xe về nH. Khi đến địa điểm bắt xe Q nói dối A T là không có tiền và đưa cho A T: 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe, 01 Đ ký xe mô tô của xe mô tô 36R7-8365 mang tên Lê Văn H và bảo A T liên hệ với A H để A H trả tiền xe cho Q. Sau đó Q bắt xe khách đi về nH. Số tiền trên Q bán xe đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.Tại cơ quan điều tra, Q không thừa nhận chiếm đoạt chiếc điện thoại Nokia 105 của A H.
Ny 09/3/2021, A Lê Văn H trình báo công an xã T Minh, huyện Thọ Xuân, tỉnh ThA Hóa.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐG Ny 25/3/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thọ Xuân, tỉnh ThA Hóa xác định:
- 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius F1, màu S đỏ - đen, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 36M - 038.77. Số máy: 1FC4032421; số khung: FC40FY032424 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 7.490.000 đồng.
- 01 điện thoại di động Nokia 105, vỏ màu đen, dạng máy trần đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 296.000 đồng.
Ny 09/5/2021, A L đã G nộp cho cơ quan điều tra: 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius F1, màu S đỏ - đen, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 36M - 038.77. Số máy: 1FC4032421; số khung: FC40FY032424 và Đ ký xe; 01 giấy bán xe cho cơ quan điều tra. A Lê Đình T G nộp: 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe, 01 Đ ký xe mô tô của xe mô tô 36R7-8365 mang tên Lê Văn H.
Ny 22/6/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thọ Xuân trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh ThA Hóa giám định chữ viết, chữ ký trên “giấy bán xe” đề Ny 09/3/2021. Tại Kết luận giám định số 2409/PC09 Ny 30/7/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh ThA Hóa kết luận: Chữ viết “lê Văn H” dưới mục “Đại diện bên bán” trên mẫu cần giám định so với chữ viết của Nguyễn Hồng Q trên mẫu so sánh là do cùng một người viết ra.
Ny 05/5/2021, A H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì đối với Q về trách nhiệm dân sự.Đối với những người được Q thuê đi bốc gỗ và A Luyện, A T đều không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
2. Hnh vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh B:
Khoảng 10 giờ Ny 24/3/2021, Nguyễn Hồng Q một mình đi đến nH A Nguyễn Văn H sinh năm 1997 trú tại bản Mùi Phú, xã Kiên T, huyện Lục Ngạn, tỉnh B. Q nói dối mình tên là Hưng, nH ở huyện Lục Nam, tỉnh B đặt vấn đề thuê A H và nhờ A H tìm thêm người đi bốc mùn cưa cho Q. A H đồng ý đưa Q đến nH A Triệu Văn H, sinh năm 1991 trú tại thôn Rừng Gai, xã Kiên T, huyện Lục Ngạn, tỉnh B. Khi gặp A H, Q nhờ A H tìm hộ người đi bốc mùn cưa thuê cho Q, A H đồng ý gọi điện cho A Hoàng Văn N sinh năm 1994, trú tại thôn Rừng Gai, xã Kiên T và A Hứa Văn D sinh năm 1981, trú tại thôn Trại Mới, xã Kiên T đến nH A H. Tại đây, Q đặt vấn đề thuê A H, A H, A D, A N đi bốc mùn cưa trả công 500.000đồng/1 Ny/1 người thì những người này đều đồng ý. Sau đó, Q cùng A H, A H, A D, A N đi 03 xe mô tô đến xưởng gỗ ở thôn H Yên, xã Trù Hựu, huyện Lục Ngạn của ông Kiều Viết C sinh năm 1964 hỏi mua mùn cưa và đầu mẩu gỗ, ông C đồng ý. Sau khi thỏa T xong, Q bảo A H ở lại bốc mùn cưa tập kết ra ngoài đường đợi xe ô tô đến bốc. Q đưa A D, A N, A H đến xưởng gỗ của chị Vi Thị V A sinh năm 1993, trú tại thôn Mào Gà, xã Phượng S, huyện Lục Ngạn đặt vấn đề mua mùn cưa và gỗ, chị V A đồng ý. Do đến giờ ăn trưa nên Q hẹn chị V A chiều quay lại rồi dẫn A D, A N, A H đi ăn cơm ở phố Kim, xã Phượng S, huyện Lục Ngạn. Đến quán ăn, Q bảo A H gọi điện cho A H xuống ăn cùng. Ăn cơm xong, Q bảo A H chở Q đi thuê xe ô tô để bốc Hng và bảo A D, A N, A H quay lại xưởng gỗ của chị V A chờ. A H chở Q đến nH chị Lê Thị Hạnh sinh năm 1988 trú tại thôn Kim 3, xã Phương S, huyện Lục Ngạn, tỉnh B. Tại đây, Q thỏa T thuê chị Hạnh chở mùn cưa, đầu mẩu gỗ từ thị trấn Chũ về thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh B với giá 1.200.000 đồng/1 chuyến thì được chị Hạnh đồng ý. Sau đó chị Hạnh điều khiển xe ô tô đi theo Q đến xưởng gỗ của chị V để chở Hng. Trong lúc mọi người đang bốc đầu mẩu gỗ lên xe ô tô thì Q bảo A N chở Q đến xưởng gỗ của gia đình ông Hoàng Văn T sinh năm 1968, trú tại thôn Ải, xã Phượng S, huyện Lục Ngạn, để tiếp tục hỏi mua mùn cưa. Tại nH ông T, Q hỏi mượn của A N chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu S nâu biển kiểm soát 98F6 - 5275 cùng Đ ký xe và nói dối là “để A đi đón đứa cháu lên đóng cùng cho nhA”; A N còn khai Q lấy lý do điện thoại của Q bị hỏng nên mượn A N chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 9C màu đen, A N đồng ý G xe, giấy tờ xe và điện thoại cho Q. Sau đó, Q điều khiển xe đi đến khu vực cầu Cẩm Lý, huyện Lục Nam, tỉnh B, tại đây Q gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ, Q đã bán chiếc xe mô tô 98F6 - 5275 cho người đàn ông này được số tiền 7.800.000 đồng rồi bắt xe đi về nH. Số tiền này Q đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Ny 19/4/2021, A N có đơn trình báo Công an huyện Lục Ngạn, tỉnh B.
Tại Kết luận định giá tài sản số 69/KL-HĐĐGTS Ny 22/4/2021 và số 88/ KL-HĐĐGTS Ny 02/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lục Ngạn xác định:
- 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Dream, màu S Nâu, BKS: 98F6 -5275 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 12.000.000 đồng;
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 9C màu đen có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.920.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản Q chiếm đoạt của A N là 13.920.000 đồng,
Đối với chiếc điện thoại Xiaomi 9C màu đen, A D, A N, A H đều xác nhận khi được Q thuê đi bốc mùn cưa thì thấy A N có sử dụng chiếc điện thoại Xiaomi, màu đen, nhưng sau khi đi với Q xong không thấy A N còn sử dụng điện thoại trên. Tại cơ quan điều tra Q không thừa nhận chiếm đoạt chiếc điện thoại Xiaomi 9C của A N.Ny 08/8/2021, Cơ quan điều tra đã tiến Hnh cho A N đối chất với Q nhưng cả hai giữ nguyên lời khai.Mặc dù Q không thừa nhận nhưng Cơ quan điều tra có đủ căn cứ kết luận Nguyễn Hồng Q có Hnh vi chiếm đoạt chiếc điện thoại nêu trên của A N.
Cơ quan điều tra đã ra T báo truy tìm đối với chiếc xe 98F6 -5275 của A N nhưng đến nay chưa thu hồi được, A N yêu cầu bồi thường. A N, A H, A H, A D đều không có đề nghị gì về tiền công bốc gỗ. Ông T và chị Hạnh, chị V A đều không có yêu cầu đề nghị gì.
3. Hnh vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại địa bàn T phố B:
Khoảng 11 giờ Ny 26/3/2021, Q đi bộ một mình đến nH A Đặng Đình Cường sinh năm 2000, trú tại thôn 4, xã Việt Lập, huyện Tân Yên, tỉnh B đặt vấn đề thuê A Cường và nhờ A Cường tìm thêm người đi bốc gỗ thuê cho Q ở phường Đa Mai, T phố B. Q thoả T với A Cường sẽ trả công cho mỗi người 600.000đồng/Ny, A Cường đồng ý và gọi điện rủ được A Giáp Văn T sinh năm 2000 trú tại thôn Đông Khoát, xã Việt Lập; A Đặng Văn Đ sinh năm 1985 trú tại thôn Lý, xã Việt Lập; A Nguyễn Văn G, sinh năm 1978 trú tại thôn Lý, xã Việt Lập cùng đi. Sau khi thỏa T với A Cường xong, Q bắt xe taxi về T phố B, tìm đến xưởng gỗ của ông Ngô Thế Tin sinh năm 1958 trú tại số nH 43, đường Tân Mai, phường Đa Mai, T phố B đặt vấn đề mua củi, gỗ vụn, ông Tin đồng ý. Sau đó, Q gọi điện thoại cho A Lương Văn Huy, sinh năm 1960 trú tại số nH 25, tổ 6, phường Trần Nguyên Hãn, T phố B hỏi thuê xe ô tô của A Huy chở Hng từ T phố B về huyện Lục Nam với giá 1.000.000 đồng/ 1 chuyến, A Huy đồng ý. Q chỉ dẫn A Huy đi đến xưởng gỗ của ông Tin chờ bốc Hng. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng Ny, Q gọi điện bảo A Cường đến xưởng gỗ của ông Tin để bốc gỗ. A Cường điều khiển xe mô tô chở A Đ, A Nguyễn Văn G điều khiển xe mô tô đi một mình đến trước còn A T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98H1- 241.41, nhãn hiệu Wave @, màu trắng đến sau. Tại xưởng gỗ nH ông Tin, Q bảo A Đ và A Cường ở lại xưởng gỗ bốc gỗ lên xe ô tô tải của A Huy, bảo T điều khiển xe mô tô 98H1- 241.41 chở A G và Q đi tới xưởng gỗ của A Ngô Thế A sinh năm 1986 trú tại đường Quốc Lộ 17, tổ Tân Mai, phường Đa Mai, T phố B. Tại đây, Q đặt vấn đề mua gỗ vụn, A Thế A đồng ý. Q bảo A G ở lại xưởng gỗ của A Thế A để bốc gỗ từ trong xưởng tập kết ra ngoài đường chờ xe ô tô đến rồi bốc lên xe. Tiếp đó, Q bảo A T chở sang xưởng gỗ tại đường Lương Văn Can, phường Đa Mai, T phố B của chị Trần Thị Hảo, sinh năm 1983 có Đ ký hộ khẩu thường trú tại tổ Tân T, phường Đa Mai. Q tiếp tục hỏi mua gỗ vụn, chị Hảo đồng ý. Lúc này, Q bảo A T sử dụng xe cải tiến bốc gỗ từ trong xưởng tập kết ra ngoài đường để chờ xe ô tô đến bốc. Khi A T chở được 01 xe gỗ ra ngoài đường thì Q hỏi mượn xe của A T, Q nói dối là “ra đón thêm một người nữa để bốc cho nhA”, A T tưởng thật nên đồng ý G xe cho Q (trong cốp xe để sẵn giấy tờ xe 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu hồng, 128Gb của A T). Ngay sau đó, Q điều khiển xe đi đến cửa Hng xe máy G Còi của A Nguyễn Long G, sinh năm 1978 ở khu Tam Tầng, xã Q Châu, huyện Việt Yên, tỉnh B. Tại đay, Q mở cốp thấy trong có 01 Đ ký xe mô tô biển kiểm soát 98H1-241.41; 01 chiếc điện thoại Iphone 7 plus, đã qua sử dụng. Q giữ lại chiếc điện thoại, còn giấy Đ ký và xe mô tô Q nói với A G là xe của Q do cần tiền nên muốn bán. A G đồng ý mua chiếc xevới giá 11.300.000 đồng, Q viết “Giấy bán, cho, tặng xe” đề Ny 26/3/2021 có ký, đề tên là “Nguyễn Văn G” và G cho A Nguyễn Long G giữ. Sau khi nhận tiền, Q bắt taxi đi đến Cửa Hng điện thoại ThA Mobile có địa chỉ số 506, đường Ngô Gia Tự, phường Tiền An, T phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh của A Nguyễn Đ ThA, sinh năm 1981 trú tại Chung cư Hoàng Gia 2, phường Kinh Bắc, T phố Bắc Ninh. Tại đây, Q không bán chiếc điện thoại Iphone 7 plus cho A ThA mà bán cho một người đàn ông không quen biết ở trong quán được số tiền 600.000 đồng.Số tiền trên Q đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Ny 16/4/2021, A Giáp Văn T đã có đơn trình báo công an T phố B.
Ny 18/4/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T phố B đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Hồng Q. Ny 20/4/2021, cơ quan điều tra đã cho Q tự chỉ dẫn và xác định được vị trí nơi tiêu thụ chiếc xe 98H1-241.41tại cửa Hng G Còi và chiếc điện thoại Iphone 7 plus tại cửa Hng ThA Mobile.
Tại Cơ quan điều tra, A Nguyễn Long G khai sau khi mua chiếc xe 98H1-241.41, cùng Ny 26/3/2021, A đã bán lại cho chị Thân Thị Hương sinh năm 1993 trú tại thôn Như Tết, xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, tỉnh B với giá 12.500.000 đồng. Cùng Ny, chị Hương đã bán chiếc xe trên cho chị Lê Thị G sinh năm 1991, trú tại số nH 45, phố Dục Q, thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh B với giá 12.700.000 đồng. Ny 13/4/2021, chị G đã bán chiếc xe này cho A Lò Văn Khoa, sinh năm 1989, trú tại xã Mường Và, huyện Sốp Cộp, tỉnh S La với giá 13.500.000 đồng. A Khoa đã G nộpcho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh S La: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu S trắng, biển kiểm soát 98H1-241.41, số máy JA39E0631808, số khung RLHJA390HY656683 (chiếc xe đã bàn G lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T phố B). Ny 20/4/2021, A Nguyễn Long G G nộp cho cơ quan điều tra 01 giấy bán, cho, tặng xe đề Ny 26/3/2021.
Ny 17/4/2021, Cơ quan điều tra đã ra yêu cầu định giá tài sản đối với tài sản Q chiếm đoạt. Tại Kết luận định giá số 53 Ny 19/4/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự T phố B kết luận:
- 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu hồng, bộ nhớ 128Gb, đã qua sử dụng, mua tháng 11/2020, cũ đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm tháng 3/2021 là 4.000.000 đồng;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu S trắng, biển kiểm soát 98H1-241.41, số máy JA39E0631808, số khung RLHJA390HY656683, mua năm 2018, cũ đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm tháng 3/2021 là 12.000.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản Q chiếm đoạt của A T là 16.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên và giấy tờ xe cho A T, A T không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự.
Ny 23/4/2021, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định, đối với “Giấy bán, cho, tặng xe” đề Ny 26/3/2021. Tại kết luận giám định số 803/KL-KTHS Ny 14/5/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận:
- Phòng Kỹ thuật hình sự không kết luận giám định chữ ký mang tên Nguyễn Văn G dưới mục “Bên bán, cho tặng” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký của Nguyễn Hồng Q trên trài liệu mẫu (ký hiệu M1, M2) do chữ ký cần giám định và mẫu so sánh khác dạng, không đủ cơ sở kết luận giám định.
- Chữ viết trên tài liệu cần giám định so với chữ viết của Nguyễn Hồng Q trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1, M2) so sánh là do cùng một người viết ra”.
Đối với A Nguyễn Long G, chị Thân Thị Hương, chị Lê Thị G, A Lò Văn Khoa khi mua chiếc xe 98H1-241.41 không biết đó là tài sản do phạm tội, đã hoàn trả lại tiền mua bán xe cho nhau, nên không vi phạm pháp luật đến nay đều không yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự đối với Q.
Đối với Đ, Cường, Nguyễn Văn G, T là những người Q thuê bốc gỗ; ông Tin, A Thế A, chị Hảo là chủ xưởng gỗ, A Huy là người Q thuê chở gỗ vụn, mùn cưa đều không có yêu cầu gì đối với Q về trách nhiệm dân sự.
4. Hnh vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại địa bàn huyện Yên Thế:
Khoảng hơn 11 giờ Ny 28/3/2021, Nguyễn Hồng Q một mình đi bộ đến nH A Lương Văn Khánh sinh năm 1974, trú tại bản Diễn, xã Tam Tiến, huyện Yên Thế, tỉnh B đặt vấn đề thuê A Khánh và nhờ A Khánh tìm thêm người đi bốc đầu mẩu gỗ và mùn cưa, A Khánh đồng ý nhưng không gọi được thêm ai. Sau đó, A Khánh đưa Q đến bản Na Lu, xã Xuân Lương, huyện Yên Thế để Q tìm thuê người. Tại đây, Q thuê được A D Văn Quế sinh năm 1980; D Văn Hồi sinh năm 1982; D Văn T sinh năm 1992 cùng trú tại bản Na Lu, xã Xuân Lương, huyện Yên Thế, và A Bàn Tài T sinh năm 1991 trú tại thôn Bãi Bông, xã Hợp Tiến, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Do thấy Q thuê được người khác nên A Khánh không đi bốc gỗ nữa mà điều khiển xe mô tô đi về nH. Sau đó, Q ngồi sau xe mô tô của A T cùng A Quế, A Hồi, A T, A T đến xưởng gỗ bóc của A Lương Bảo S, sinh năm 1990 trú tại tổ dân phố H Bình, thị trấn Bố Hạ, huyện Yên Thế. Q đặt vấn đề mua đầu mẩu gỗ và mùn cưa, A S đồng ý. Q bảo A Quế, A Hồi, A T, A T đóng mùn cưa tại xưởng gỗ bóc của A S vào bao còn Q đi đến nH chị Trần Thị ThA sinh năm 1973 trú tại thôn Sỏi, xã Tân Sỏi, huyện Yên Thế, để thuê chị ThA đi chở đầu mẩu gỗ và mùn cưa về tỉnh Bắc Ninh. Chị ThA đồng ý và gọi điện thoại cho A Nguyễn Văn Đ sinh năm 1992 trú tại thôn Cây Gạo, xã Đồng Lạc, huyện Yên Thế điều khiển xe ô tô tải biển kiển soát 98H - 003.54 của chị ThA đến chở Hng. Khi mọi người đang bốc gỗ mùn cưa lên xe ô tô tải thì Q bảo A T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B3 - 697.41, nhãn hiệu Honda Wave, màu S đen bạc của A T chở Q đến xưởng gỗ bóc của A Nguyễn Văn N, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố Dinh Tiến, thị trấn Bố Hạ, huyện Yên Thế, tỉnh B. Tại đây, Q đặt vấn đề mua thêm đầu mẩu gỗ và mùn cưa, A N đồng ý. Q bảo A T ở lại đóng mùn cưa vào bao và hỏi mượn xe mô tô của A T để đi có việc. A T tưởng thật đồng ý G xe mô tô cho Q. Sau đó Q điều khiển xe quay lại xưởng gỗ của A S và bảo với A Quế “đổi xe cho A, xe T không có giấy tờ”. Quế ra kiểm tra cốp xe của mình và nói xe là không có giấy tờ, xe khó đi nên không cho Q đổi xe. Sau đó Q điều khiển xe mô tô 98B3 - 697.41của A T đi về huyện Nam Sách, tỉnh H D tìm nơi tiêu thụ. Khi Q điều khiển xe đi đến khu vực bến Đò Hn, Q gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không biết tên và địa chỉ, Q bán chiếc xe 98B3 - 697.41 cho người đàn ông này được số tiền 2.800.000đồng rồi bắt xe đi về nH. Số tiền trên Q đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Ny 29/3/2021, A T đã trình báo Công an huyện Yên Thế, tỉnh B.
Tại kết luận định giá tài sản số 46/KL-HDĐGTS Ny 07/4/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Thế kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu S đen- bạc, biển kiểm soát: 98B3 - 697.41, số máy JA39E159842, số khung 3918LY26055, xe được mua mới từ Ny 17/9/2020, có giá trị tại thời điểm định giá là 12.000.000 đồng.
Ny 15/4/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thế đã tiến Hnh triệu tập khám xét nơi ở của Nguyễn Hồng Q, thu giữ:
- 01 túi ni lông được dán kín niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Quần áo mưa” bên trong có 02 áo mưa mầu xA, đen trên ngực áo mưa có ghi chữ “Vĩnh Thịnh” và 01 quần mưa mầu đen;
- 01 túi ni lông được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Mũ bảo hiểm” bên trong có 01(Một) mũ bảo hiểm loại mũ nửa đầu mầu xA đỏ trên mũ có ghi chữ “ALKAZA”;
- 01 túi ni lông được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Giầy” bên trong có 01 đôi giày thể thao mầu tím than có viền đế trắng, trên giấy có chữ "FURO"; 01 đôi giầy kiểu dáng thể thao mầu tím than có viền mầu trắng trên giấy có chữ "A.SPORT";
- 01 túi ni lông được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Đồ dùng” bên trong có: 01 ví da mầu nâu đã cũ, bên ngoài ví có khẩu viền chỉ và có chữ "Mazig" ngăn nhỏ bên trong ví có 02 mảnh giấy có hoa văn mầu vàn, đen, đỏ; 01 ví da mầu nâu đã cũ, bên trong ví không có đồ vật tài sản gì, mặt ngoài ví có chữ "DOMINO USA"; 01móc khóa trên móc khóa có 01 chìa khóa xe máy và một que ngoáy tai; 01 ví da mầu nâu đã cũ trong ví không có đồ vật tài sản gì, bên ngoài ví có chữ "BOSS"; 01 ví da mầu đen đã cũ trong ví không có đồ vật tài sản gì, bên ngoài ví có chữ “LỘC”;
- 01 phong bì thư niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Sim” bên trong có 01 túi ni lông một mặt có chữ “Aten” trong túi có 01 sim điện thoại bị bẻ gẫy làm 04 trong đó có: 02 áo sim bằng nhựa và 02 mảnh nhựa một mặt có gắn kim loại màu vàng nhạt bị gẫy nham nhở;
- 01 phong bì thư được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Điện thoại” bên trong có: 01 điện thoại di động Nokia model: TA1174 vỏ điện thoại mầu đen số IMEI1: 351671340273286; số IMEI2: 351671345273 bên trong có một sim thuê bao 0936.818.872; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng vỏ mầu trắng nắp phía sau có chữ Iphone, điện thoại không còn hoạt động và 01 túi ni lông màu trắng loại nhỏ bên trong có 02 sim điện thoại di động gồm 01 sim mặt sau có chữ Mobifone số thuê bao 0705.793.608 và 01 sim mặt sau có chữ Viettel không kiểm tra được số thuê bao;
- 01 hộp bìa cát tông có chữ “Supree” được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia bên trong có: 01 túi sách mầu đen loại có quai đeo bên trong có: 01 ốp điện thoại được bọc da mầu vàng, 01 sạc điện thoại di động Nokia mầu đen; 01 sổ tay bên trong không có chữ gì; 01 ví da cầm tay mầu đen kiểu ví nữ; 01 hộp nhựa mầu trắng có kích thước (1,5x2) cm bên trong hộp nhựa có 02 khuyên đeo tại được cấu tạo bởi 01 dây kim loại màu vàng loại nhỏ cả hai khuyên đeo tại mỗi dây kim loại đều gắn 01 hạt cứng màu trắng hình tròn đầu còn lại gắn một đoạn kim loại nhỏ, nhọn; 01 ví da màu vàng cũ rách bên trong ví có số tiền 2.280.000đồng và 04 tờ tiền có chữ nước ngoài; 01 đồng hồ đeo tay trên mặt đồng hồ có chữ OMEGA QURTZ SAPPHIRE; 01 nhẫn đeo tay bằng kim loại màu trắng, mặt nhẫn có 01 mặt cứng dạng đá mầu đen; 01 vòng đeo tay được cấu tạo bởi 17 hạt dạng gỗ hình tròn; 01 mũ bảo hiểm loại mũ nửa đầu mầu xA đỏ trắng, phía sau mũ có chữ YAMAHA và 01 Giấy chứng minh nhân dân số: 131420247 mang tên Nguyễn Văn Tuấn, sinh Ny 13/5/1978 Nơi Đ ký HKTT: xã Mỹ Lương, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Quá trình điều tra xác định ngoài chiếc điện thoại 01 điện thoại di động Nokia model: TA1174 vỏ điện thoại mầu đen số IMEI1: 351671340273286; số IMEI2: 351671345273 Q sử dụng lắp sim rác 0814130896 để thực hiện Hnh vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì các tài sản khác là tài sản cá nhân của Q hoặc không xác định được chủ sở H đều không liên quan đến Hnh vi phạm tội , Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định. Đối với 01 chứng minh nhân dân số 131420247 mang tên Nguyễn Văn Tuấn, sinh Ny 13/5/1978. Nơi Đ ký HKTT: xã Mỹ Lương, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ, Q không rõ nhặt được ở đâu, Cơ quan CSĐT Công A T phố B đã ra quyết định chuyển giấy chứng minh nhân dân số 131420247 mang tên Nguyễn Văn Tuấn cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ tiếp tục xác minh làm rõ.
Đối với chiếc xe mô tô 98B3 - 697.41 chưa thu hồi được, A T đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với những người được Q thuê bốc gỗ A Quế, A Hồi, A T yêu cầu Q trả số tiền công bốc mẩu gỗ 600.000 đồng/1 người/1 Ny. Đối với A Đ là người Q thuê xe ô tô yêu cầu hoàn trả 500.000 đồng tiền công và 2.200.000 đồng tiền thuê xe ô tô.
Ngoài các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh B, tỉnh ThA Hóa nêu trên, Nguyễn Hồng Q còn thực hiện 01 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản địa bàn huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái và đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái khởi tố điều tra trong vụ án khác.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Hồng Q (tức Nguyễn Văn Q) đã khai nhận rõ toàn bộ Hnh vi phạm tội của mình.
Tại Bản cáo trạng số 176/CT-VKS Ny 06 tháng 10 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân T phố B đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng Q (tức Nguyễn Văn Q) về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Hồng Q khai nhận nội dung diễn biến sự việc như bản Cáo trạng nêu là đúng, Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng tội, không oan sai. Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập rất thấp không đủ nuôi sống bản thân nên sống phụ thuộc vào gia đình, thường xuyên vắng nH và lấy việc lừa đảo để có tiền chữa bệnh và làm nguồn sống Cnh trong thời gian dài đi chữa bệnh. Bị cáo nhận thức Hnh vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Về phần trách nhiệm dân sự, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại A N A T giá trị tài sản theo kết luận định giá và người có quyền lợi N vụ liên quan A Quế, A Hồi, A T mỗi người 600.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố B sau khi phân tích tính chất, mức độ Hnh vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Viện kiểm sát nhận định: Căn cứ tại tiểu mục 5 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP Ny 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn về tình tiết có tính chất chuyên nghiệp của Bộ luật hình sự năm 1999, bị cáo thực hiện 04 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hiện nay việc áp dụng pháp luật còn chưa thống nhất. Mặt khác tại thời điểm xét xử TANDTC đã ban Hnh Quyết định số 355 Ny 08/10/2021 thì Nghị quyết trên đã hết hiệu lực, đến nay chưa có hướng dẫn mới. Hơn nữa theo bị cáo khai mục đích đi lừa đảo để lấy tiền mua thuốc chữa bệnh lao phổi, vẫn sống phụ thuộc vào tiền gia đình cho và tiền để dành, tiền đi làm thuê nên không đủ căn cứ xác định bị cáo sử dụng tiền phạm tội là nguồn sống Cnh. Để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, Viện kiểm sát không áp dụng Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP. Tại phiên tòa, đối với 02 chiếc điện thoại bị chiếm đoạt Nokia 105 và Xiaomi, bị hại có đơn thay đổi lời khai, căn cứ Điều 319 BLTTHS, Viện kiểm sát thay đổi Quyết định truy tố đối với bị cáo xác định tổng trị giá tài sản Q chiếm đoạt được là 47.490.000 đồng. A Đ có đơn không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố B giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất, Hnh vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội dA, đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng Q (tức Nguyễn Văn Q) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt:
- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều174;điểm skhoản 1, khoản 2Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng Q từ 03 năm 09 tháng đến 04 năm 3 ttháng thángtù. Thời hạn tù tính từ Ny tạm giữ, tạm giam 17/4/2021, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo T Hnh án.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 30 BLTTHS, Điều 582 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Q bồi thường cho A N trị giá chiếc xe mô tô 98F6 – 5275 chưa thu hồi được: 12.000.000 đồng
Buộc bị cáo Q bồi thường cho A T trị giá chiếc xe mô tô 98B3 – 697.41 chưa thu hồi được: 12.000.000 đồng.
Hoàn trả cho A Quế, A Hồi, A T tiền công bốc mẩu gỗ 600.000 đồng/người
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 túi ni lông được dán kín niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Quần áo mưa” bên trong có 02 áo mưa mầu xA, đen trên ngực áo mưa có ghi chữ “Vĩnh Thịnh” và 01 quần mưa mầu đen;
- 01 túi ni lông được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Mũ bảo hiểm” bên trong có 01(Một) mũ bảo hiểm loại mũ nửa đầu mầu xA đỏ trên mũ có ghi chữ “ALKAZA”;
- 01 túi ni lông được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Giầy” bên trong có 01 đôi giày thể thao mầu tím than có viền đế trắng, trên giấy có chữ "FURO"; 01 đôi giầy kiểu dáng thể thao mầu tím than có viền mầu trắng trên giấy có chữ "A.SPORT";
- 01 túi ni lông được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Đồ dùng” bên trong có: 01 ví da mầu nâu đã cũ, bên ngoài ví có khẩu viền chỉ và có chữ "Mazig" ngăn nhỏ bên trong ví có 02 mảnh giấy có hoa văn mầu vàn, đen, đỏ; 01 ví da mầu nâu đã cũ, bên trong ví không có đồ vật tài sản gì, mặt ngoài ví có chữ "DOMINO USA"; 01 móc khóa trên móc khóa có 01 chìa khóa xe máy và một que ngoáy tai; 01 ví da mầu nâu đã cũ trong ví không có đồ vật tài sản gì, bên ngoài ví có chữ "BOSS"; 01 ví da mầu đen đã cũ trong ví không có đồ vật tài sản gì, bên ngoài ví có chữ “LỘC”;
- 01 phong bì thư niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Sim” bên trong có 01 túi ni lông một mặt có chữ “Aten” trong túi có 01 sim điện thoại bị bẻ gẫy làm 04 trong đó có: 02 áo sim bằng nhựa và 02 mảnh nhựa một mặt có gắn kim loại màu vàng nhạt bị gẫy nham nhở;
- 01 phong bì thư được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Điện thoại” bên trong có: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng vỏ mầu trắng nắp phía sau có chữ Iphone, điện thoại không còn hoạt động và 01 túi ni lông màu trắng loại nhỏ bên trong có 02 sim điện thoại di động gồm 01 sim mặt sau có chữ Mobifone số thuê bao 0705.793.608 và 01 sim mặt sau có chữ Viettel không kiểm tra được số thuê bao;
- 01 hộp bìa cát tông có chữ “Supree” được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia bên trong có: 01 túi sách mầu đen loại có quai đeo bên trong có: 01 ốp điện thoại được bọc da mầu vàng, 01 sạc điện thoại di động Nokia mầu đen; 01 sổ tay bên trong không có chữ; 01 ví da cầm tay mầu đen kiểu ví nữ; 01 hộp nhựa mầu trắng có kích thước (1,5x2) cm bên trong hộp nhựa có 02 khuyên đeo tại được cấu tạo bởi 01 dây kim loại màu vàng loại nhỏ cả hai khuyên đeo tại mỗi dây kim loại đều gắn 01 hạt cứng màu trắng hình tròn đầu còn lại gắn một đoạn kim loại nhỏ, nhọn; 01 ví da màu vàng cũ rách; 01 vòng đeo tay được cấu tạo bởi 17 hạt dạng gỗ hình tròn; 01 mũ bảo hiểm loại mũ nửa đầu mầu xA đỏ trắng, phía sau mũ có chữ YAMAHA.
Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Nokia model: TA1174 vỏ điện thoại mầu đen số IMEI1: 351671340273286; số IMEI2: 351671345273 bên trong có một sim thuê bao 0936.818.872; bị cáo sử dụng lắp sim rác 0814130896 để thực hiện Hnh vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Trả lại bị cáo: 01 đồng hồ đeo tay trên mặt đồng hồ có chữ OMEGA QURTZ SAPPHIRE; 01 nhẫn đeo tay bằng kim loại màu trắng, mặt nhẫn có 01 mặt cứng dạng đá mầu đen;số tiền 2.280.000 đồng và 04 tờ tiền có chữ nước ngoài nhưng tạm giữ để đảm bảo T Hnh án.
5. Về án phí: Bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến trA luận gì với bản luận tội của Viện kiển sát, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an T phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân T phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi N vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, quyết định của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội dA: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi N vụ liên quanvà các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ Ny 08/3/2021 đến Ny 28/3/2021, Nguyễn Hồng Q đã thực hiện 03 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh B và 01 vụ trên địa bàn huyện Thọ Xuân, tỉnh ThA Hóa. Cụ thể là:
Vụ thứ nhất: Ny 08/3/2021 tại xưởng gỗ của chị Nguyễn Thị H sinh năm 1986 trú tại thôn 2 Yên Lược, xã T Minh, huyện Thọ Xuân, tỉnh ThA Hóa, Nguyễn Hồng Q đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt: 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius F1, màu S đỏ - đen, biển kiểm soát 36M - 038.77 trị giá là 7.490.000 đồng.
Vụ thứ hai: Ny 24/3/2021, tại xưởng gỗ chị Vi Thị V A sinh năm 1993, trú tại thôn Mào Gà, xã Phượng S, huyện Lục Ngạn, tỉnh B, Nguyễn Hồng Q dã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt: 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Dream, màu S Nâu, BKS: 98F6 -5275 trị giá 12.000.000 đồng.
Vụ thứ ba: Ny 26/3/2021, tại xưởng gỗ ở đường Lương Văn Can, phường Đa Mai, T phố B của chị Trần Thị Hảo, sinh năm 1983 có Đ ký hộ khẩu thường trú tại tổ Tân T, phường Đa Mai, Nguyễn Hồng Q dã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu hồng, bộ nhớ 128Gb; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu S trắng, biển kiểm soát 98H1-241.41, đều đã qua sử dụng của A Giáp Văn T sinh năm 2000 trú tại thôn Đông Khoát, xã Việt Lập, có tổng trị giá là 16.000.000 đồng.
Vụ thứ tư: Ny 28/3/2021, tại xưởng gỗ bóc của A Nguyễn Văn N, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố Dinh Tiến, thị trấn Bố Hạ, huyện Yên Thế, tỉnh B, Nguyễn Hồng Q đã dùng thủ đoạn gian đối chiếm đoạt 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu S đen- bạc, biển kiểm soát: 98B3 - 697.41, đã qua sử dụng có trị giá là 12.000.000 đồng của A D Văn T sinh năm 1992 trú tại bản Na Lu, xã Xuân Lương, huyện Yên Thế.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử nhận định bị cáo Nguyễn Hồng Q (tức Nguyễn Văn Q) 04 lần chiếm đoạt với tổng giá trị 47.490.000 đồng. Bị cáo đã từng nhiều lần phạm tội, theo bản án số 26/2013/HSST Ny 01/8/2012, Toà án nhân dân huyện ThA Miện xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị cáo chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị Toà án nhân dân huyện Nam Sách xử phạt 45 tháng tù; bị cáo chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”. Như vậy bị cáo đã 02 lần bị kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đều chưa được xoá án tích, đến nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện 04 lần lừa đảo chiếm chiếm đoạt tài sản, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu T tội phạm; bản thân bị cáo Q không có nghề nghiệp, thu nhập rất thấp không đủ nuôi sống bản thân nên sống phụ thuộc vào gia đình, thường xuyên vắng nH và lấy việc lừa đảo để có tiền chữa bệnh và làm nguồn sống Cnh trong thời gian dài đi chữa bệnh vì vậy thuộc trường hợp “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” đúng với hướng dẫn tại điểm a mục 5.2 Nghị quyết số 01/2010/NQ – HĐTP Ny 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Mặc dù số Nghị quyết 01/2010/NQ – HĐTP Ny 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đến thời điểm xét xử đã hết hiệu lực nhưng bị cáo thực hiện Hnh vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại thời điểm Nghị quyết 01/2010/NQ – HĐTP Ny 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao vẫn còn hiệu lực và đang được áp dụng. Hội đồng xét xử thấy Hnh vi của bị cáo Nguyễn Hồng Q (tức Nguyễn Văn Q đã đủ yếu tố cấu T tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân T phố B truy tố bị cáo theo tội dA và Điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 04 lần phạm tội, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu T tội phạm nên pH chịu tình tiết tăng nặng là “phạm tội nhiều lần” theo quy định tại g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là chiến sỹ H quân đã công tác trên quần đảo Hoàng Sa và có mẹ đẻ được tặng kỷ niệm chương chiến sỹ Trường S nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất mức độ, Hnh vi phạm tội, nhân thân bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xét xử hình sự về các tội dA khác nhau nhưng bị cáo không tự nhận thức được đây là bài học cho bản thân. Bị cáo sử dụng thủ đoạn gian dối làm cho người bị hại là A H, A N, A T, A T tin tưởng để chiếm đoạt xe mô tô của họ là Hnh vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở H tài sản được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ Hnh vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu trA phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt, tương xứng với tính chất, mức độ, Hnh vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở T công dân có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự
Buộc bị cáo Q bồi thường cho A N trị giá chiếc xe mô tô 98F6 – 5275 chưa thu hồi được: 12.000.000 đồng
Buộc bị cáo Q bồi thường cho A T trị giá chiếc xe mô tô 98B3 – 697.41 chưa thu hồi được: 12.000.000 đồng.
Hoàn trả cho A Quế, A Hồi, A T tiền công bốc mẩu gỗ mỗi người 600.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp, thu nhập nên không cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng:
Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 túi ni lông được dán kín niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Quần áo mưa” bên trong có 02 áo mưa mầu xA, đen trên ngực áo mưa có ghi chữ “Vĩnh Thịnh” và 01 quần mưa mầu đen;
- 01 túi ni lông được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Mũ bảo hiểm” bên trong có 01(Một) mũ bảo hiểm loại mũ nửa đầu mầu xA đỏ trên mũ có ghi chữ “ALKAZA”;
- 01 túi ni lông được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Giầy” bên trong có 01 đôi giày thể thao mầu tím than có viền đế trắng, trên giấy có chữ "FURO"; 01 đôi giầy kiểu dáng thể thao mầu tím than có viền mầu trắng trên giấy có chữ "A.SPORT";
- 01 túi ni lông được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Đồ dùng” bên trong có: 01 ví da mầu nâu đã cũ, bên ngoài ví có khẩu viền chỉ và có chữ "Mazig" ngăn nhỏ bên trong ví có 02 mảnh giấy có hoa văn mầu vàn, đen, đỏ; 01 ví da mầu nâu đã cũ, bên trong ví không có đồ vật tài sản gì, mặt ngoài ví có chữ "DOMINO USA"; 01 móc khóa trên móc khóa có 01 chìa khóa xe máy và một que ngoáy tai; 01 ví da mầu nâu đã cũ trong ví không có đồ vật tài sản gì, bên ngoài ví có chữ "BOSS"; 01 ví da mầu đen đã cũ trong ví không có đồ vật tài sản gì, bên ngoài ví có chữ “LỘC”;
- 01 phong bì thư niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Sim” bên trong có 01 túi ni lông một mặt có chữ “Aten” trong túi có 01 sim điện thoại bị bẻ gẫy làm 04 trong đó có: 02 áo sim bằng nhựa và 02 mảnh nhựa một mặt có gắn kim loại màu vàng nhạt bị gẫy nham nhở;
- 01 phong bì thư được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Điện thoại” bên trong có: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng vỏ mầu trắng nắp phía sau có chữ Iphone, điện thoại không còn hoạt động và 01 túi ni lông màu trắng loại nhỏ bên trong có 02 sim điện thoại di động gồm 01 sim mặt sau có chữ Mobifone số thuê bao 0705.793.608 và 01 sim mặt sau có chữ Viettel không kiểm tra được số thuê bao;
- 01 hộp bìa cát tông có chữ “Supree” được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia bên trong có: 01 túi sách mầu đen loại có quai đeo bên trong có: 01 ốp điện thoại được bọc da mầu vàng, 01 sạc điện thoại di động Nokia mầu đen; 01 sổ tay bên trong không có chữ; 01 ví da cầm tay mầu đen kiểu ví nữ; 01 hộp nhựa mầu trắng có kích thước (1,5x2) cm bên trong hộp nhựa có 02 khuyên đeo tại được cấu tạo bởi 01 dây kim loại màu vàng loại nhỏ cả hai khuyên đeo tại mỗi dây kim loại đều gắn 01 hạt cứng màu trắng hình tròn đầu còn lại gắn một đoạn kim loại nhỏ, nhọn; 01 ví da màu vàng cũ rách; 01 vòng đeo tay được cấu tạo bởi 17 hạt dạng gỗ hình tròn; 01 mũ bảo hiểm loại mũ nửa đầu mầu xA đỏ trắng, phía sau mũ có chữ YAMAHA.
Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Nokia model: TA1174 vỏ điện thoại mầu đen số IMEI1: 351671340273286; số IMEI2: 351671345273 bên trong có một sim thuê bao 0936.818.872; bị cáo sử dụng lắp sim rác 0814130896 để thực hiện Hnh vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Trả lại bị cáo: 01 đồng hồ đeo tay trên mặt đồng hồ có chữ OMEGA QURTZ SAPPHIRE; 01 nhẫn đeo tay bằng kim loại màu trắng, mặt nhẫn có 01 mặt cứng dạng đá mầu đen;số tiền 2.280.000 đồng và 04 tờ tiền có chữ nước ngoài nhưng tạm giữ để đảm bảo T Hnh án.
Đối với A Lê Văn H, A Hoàng Văn N tại Cơ quan điều tra khai bị cáo có Hnh vi lừa đảo chiếm đoạt điện thoại. Nay A H, A N thừa nhận bị rơi trong quá trình di chuyển đi lại nên không yêu cầu bị cáo pH bổi thường điện thoại.
Đối với A Nguyễn Văn Đ tại Cơ quan điều tra có yêu cầu bị cáo hoàn trả 500.000 đồng tiền công và 2.200.000 đồng tiền thuê xe ô tô. Nay A Đ không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Đối với A Nguyễn Văn L, A Nguyễn Long G có Hnh vi mua chiếc xe do bị cáo Q đem bán nhưng không biết đó là tài sản phạm tội mà có nên A L, A G không vi phạm pháp luật. Đến nay A L, A G không có yêu cầu gì về dân sự.
Đối với chị Thân Thị Hương, chị Lê Thị G, A Lò Văn Khoa có Hnh vi mua chiếc xe 98H1 – 241.41 nhưng không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên chị Hương, chị G, A Khoa không vi phạm pháp luật.
Đối với A Lê Văn H, A Giáp Văn T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì đối với bị cáo Q về trách nhiệm dân sự.
Đối với A Lê Sỹ G, A Trần Văn Hoà, A Hoàng Văn N, A Nguyễn Văn H, A Triệu Văn H, A Hứa Văn D, A Giáp Văn T, A Đặng Đình Cường, A Nguyễn Văn G, A Đặng Văn Đ là những người bị cáo thuê bốc gỗ đều không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự. Đối với ông Lê Gia V, ông Lê Trọng T, chị Nguyễn Thị H, ông Kiều Viết C, chị Vi Thị V A, ông Hoàng Văn T, ông Ngô Thế Tin, A Ngô Thế A, chị Trần Thị Hảo, A Lương Bảo S, A Nguyễn Văn N đều là chủ xưởng gỗ không có yêu cầu gì đối với bị cáo về trách nhiệm dân sự. Đối với chị Lê Thị Hạnh, A Lương Văn Huy, chị Trần Thị ThA, A Phạm Hồng S là người bị cáo Q thuê chở gỗ vụn, mùn cưa đều không có yêu cầu gì đối với bị cáo về trách nhiệm dân sự.
Bị hại, người có quyền lợi N vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Việc vắng mặt bị hại, người liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử cho nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQD14 Ny 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo T Hnh án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b, d khoản 2 Điều 174;điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Q (tức Nguyễn Văn Q) 04 (Bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ Ny tạm giữ, tạm giam 17/4/2021.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo bồi thường cho A Hoàng Văn N số tiền 12.000.000 đồng
Buộc bị cáo bồi thường cho A D Văn T số tiền 12.000.000 đồng.
Hoàn trả cho A D Văn Quế, A D Văn Hồi, A Bàn Tài T tiền công bốc mẩu gỗ mỗi người 600.000 đồng.
3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 túi ni lông được dán kín niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Quần áo mưa” bên trong có 02 áo mưa mầu xA, đen trên ngực áo mưa có ghi chữ “Vĩnh Thịnh” và 01 quần mưa mầu đen;
- 01 túi ni lông được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Mũ bảo hiểm” bên trong có 01(Một) mũ bảo hiểm loại mũ nửa đầu mầu xA đỏ trên mũ có ghi chữ “ALKAZA”;
- 01 túi ni lông được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Giầy” bên trong có 01 đôi giày thể thao mầu tím than có viền đế trắng, trên giấy có chữ "FURO"; 01 đôi giầy kiểu dáng thể thao mầu tím than có viền mầu trắng trên giấy có chữ "A.SPORT";
- 01 túi ni lông được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Đồ dùng” bên trong có: 01 ví da mầu nâu đã cũ, bên ngoài ví có khẩu viền chỉ và có chữ "Mazig" ngăn nhỏ bên trong ví có 02 mảnh giấy có hoa văn mầu vàn, đen, đỏ; 01 ví da mầu nâu đã cũ, bên trong ví không có đồ vật tài sản gì, mặt ngoài ví có chữ "DOMINO USA"; 01 móc khóa trên móc khóa có 01 chìa khóa xe máy và một que ngoáy tai; 01 ví da mầu nâu đã cũ trong ví không có đồ vật tài sản gì, bên ngoài ví có chữ "BOSS"; 01 ví da mầu đen đã cũ trong ví không có đồ vật tài sản gì, bên ngoài ví có chữ “LỘC”;
- 01 phong bì thư niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Sim” bên trong có 01 túi ni lông một mặt có chữ “Aten” trong túi có 01 sim điện thoại bị bẻ gẫy làm 04 trong đó có: 02 áo sim bằng nhựa và 02 mảnh nhựa một mặt có gắn kim loại màu vàng nhạt bị gẫy nham nhở;
- 01 phong bì thư được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia ký hiệu “Điện thoại” bên trong có: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng vỏ mầu trắng nắp phía sau có chữ Iphone, điện thoại không còn hoạt động và 01 túi ni lông màu trắng loại nhỏ bên trong có 02 sim điện thoại di động gồm 01 sim mặt sau có chữ Mobifone số thuê bao 0705.793.608 và 01 sim mặt sau có chữ Viettel không kiểm tra được số thuê bao;
- 01 hộp bìa cát tông có chữ “Supree” được niêm phong có chữ ký của các T phần tham gia bên trong có: 01 túi sách mầu đen loại có quai đeo bên trong có: 01 ốp điện thoại được bọc da mầu vàng, 01 sạc điện thoại di động Nokia mầu đen; 01 sổ tay bên trong không có chữ; 01 ví da cầm tay mầu đen kiểu ví nữ; 01 hộp nhựa mầu trắng có kích thước (1,5x2) cm bên trong hộp nhựa có 02 khuyên đeo tại được cấu tạo bởi 01 dây kim loại màu vàng loại nhỏ cả hai khuyên đeo tại mỗi dây kim loại đều gắn 01 hạt cứng màu trắng hình tròn đầu còn lại gắn một đoạn kim loại nhỏ, nhọn; 01 ví da màu vàng cũ rách; 01 vòng đeo tay được cấu tạo bởi 17 hạt dạng gỗ hình tròn; 01 mũ bảo hiểm loại mũ nửa đầu mầu xA đỏ trắng, phía sau mũ có chữ YAMAHA.
Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Nokia model: TA1174 vỏ điện thoại mầu đen số IMEI1: 351671340273286; số IMEI2: 351671345273 bên trong có một sim thuê bao 0936.818.872; bị cáo sử dụng lắp sim rác 0814130896 để thực hiện Hnh vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Trả lại bị cáo: 01 đồng hồ đeo tay trên mặt đồng hồ có chữ OMEGA QURTZ SAPPHIRE; 01 nhẫn đeo tay bằng kim loại màu trắng, mặt nhẫn có 01 mặt cứng dạng đá mầu đen; số tiền 2.280.000 đồng và 04 tờ tiền có chữ nước ngoài nhưng tạm giữ để đảm bảo T Hnh án.
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Ny 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo pH chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.290.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
5. N vụ chậm T Hnh án: Kể từ Ny bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan T Hnh án có quyền chủ động ra quyết định T Hnh án) hoặc kể từ Ny có đơn yêu cầu T Hnh án của người được T Hnh án (đối với các khoản tiền pH trả cho người được T Hnh án) cho đến khi T Hnh án xong, tất cả các khoản tiền, Hng tháng bên pH T Hnh án còn pH chịu khoản tiền lãi của số tiền còn pH T Hnh án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 Ny kể từ Ny tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi N vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 Ny kể từ Ny được tống đạt bản án hoặc kể từ Ny niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
7. Trường hợp bản án, quyết định được T Hnh theo quy định tại Điều 2 Luật T Hnh án dân sự thì người được T Hnh án dân sự, người pH T Hnh án dân sự có quyền thỏa T T Hnh án, quyền yêu cầu T Hnh án, tự nguyện T Hnh án hoặc bị cưỡng chế T Hnh án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật T Hnh án dân sự. Thời hiệu T Hnh án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật T Hnh án dân sự ./.
Nơi nh
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM ận:
| - TAND tỉnh B; - VKSND tỉnh B; - VKSND TP B; - Cơ quan CSĐT TP B; - Chi cục THADS TP B; - UBND xã Nam Trung, huyện Nam Sách, tỉnh H D; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ, văn phòng. T VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Thu H THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Thu H |