vanban.org

Bản án 185/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quach Thi Ph xin ly hon voi Nguyen Quang Th"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2020/HNGĐ-ST
Ngày 24/8/2020
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mạc Văn Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Hoàng Văn Bốn - Cán bộ hưu trí.

2. Ông: Lê Quang Luân - Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Vũ Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 24/8/2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 100/2020/TLST- HNGĐ, ngày 06 tháng 5 năm 2020, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2020/QĐST- HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Quách Thị Ph, sinh năm 1992;

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quang Th, sinh năm 1986;

Cùng địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

(Chị Ph có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Th vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Quách Thị Ph trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Quang Th kết hôn với nhau vào năm 2011 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Việc kết hôn là do hai bên tự nguyện, không bị cưỡng ép, lừa dối kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Khi mâu thuẫn sảy ra vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 6 năm 2019 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị với anh Th không còn, mâu thuẫn đã đến mức căng thẳng trầm trọng không thể đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình, mục đích hôn nhân không đạt dược. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quang Th.

- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Quang Th có 02 con chung là cháu Nguyễn Trọng H, sinh ngày 17/11/2011 và cháu Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 19/5/2017. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Hoàng M đến khi trưởng thành và không yêu cầu anh Th phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

- Về tài sản chung: Chị Ph xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về vay nợ chung: Chị Ph xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn vắng mặt, nhưng tại bản bản lấy lời khai và quá trình hòa giải anh Nguyễn Quang Th trình bày:

Anh và chị Quách Thị Ph kết hôn với nhau năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, việc kết hôn là do hai bên tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau, tuy nhiên chỉ là những mâu thuẫn nhỏ, chưa đến mức trầm trọng, đến tháng 6 năm 2019 do mâu thuẫn nên hai vợ chồng không sống cùng nhau và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị Ph xin ly hôn anh không nhất trí với lý do vì hai con còn nhỏ, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Anh và chị Th có 02 con chung là cháu Nguyễn Trọng H, sinh ngày 17/11/2011 và cháu Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 19/5/2017. Nếu chị Ph nhất quyết xin ly hôn thì sau khi ly hôn anh đề nghị được nuôi dưỡng cả hai con chung là Nguyễn Trọng H, cháu Nguyễn Hoàng M, về cấp dưỡng nuôi con chung anh và chị Ph tự thỏa Th.

- Về tài sản chung: Anh Th xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về vay nợ chung: Anh Th xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đối với bị đơn chưa chấp hành việc triệu tập của Tòa án.

- Về nội dung: Chị Ph và anh Th kết hôn với nhau năm 2011 có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Y ngày 26/01/2011, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Quá trình chung sống đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Hiện chị Ph và anh Th sống ly thân, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Ph và anh Th đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các quy định của Luật hôn nhân và gia đình đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Ph và xử cho chị Quách Thị Ph được ly hôn với anh Nguyễn Quang Th. Về con chung đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 19/5/2017 cho chị Quách Thị Ph được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu Nguyễn Trọng H, sinh ngày 17/11/2011 cho anh Nguyễn Quang Th được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Ph phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Quách Thị Ph có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Quang Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Quách Thị Ph và anh Nguyễn Quang Th kết hôn với nhau năm 2011 có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Y ngày 26/01/2011, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối và ép buộc. Như vậy hôn nhân giữa chị Quách Thị Ph và anh Nguyễn Quang Th là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án chị Ph xác định cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, luôn xảy ra mâu thuẫn vợ chồng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng không thể hòa hợp được, nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2019 đến nay, trong thời gian sống ly thân vợ chồng không quan tâm gì đến nhau.

Qua xác minh tại địa phương thể hiện chị Quách Thị Ph và anh Nguyễn Quang Th kết hôn với nhau từ năm 2011, quá trình chung sống có xảy ra mâu thuẫn vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án anh Th không nhất trí với yêu cầu xin ly hôn của chị Ph, tuy nhiên anh Th xác định trong cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn xảy ra. Khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2019 đến nay, trong thời gian sống ly thân vợ chồng không quan tâm gì đến nhau. Hội đồng xét xử thấy rằng do bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Ph và anh Th. Khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2019 đến nay, trong thời gian sống ly thân vợ chồng không quan tâm gì đến nhau. Vì vậy có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Ph và anh Th đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể tồn tại được một gia đình ấm no, bình đẳng, hạnh phúc và tiến bộ. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ph với anh Th là phù hợp với quy định tại Điều 56 - Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Quách Thị Ph và anh Nguyễn Quang Th có 02 con chung là Nguyễn Trọng H, sinh ngày 17/11/2011 và cháu Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 19/5/2017. Chị Ph có nguyện vọng sau khi ly hôn được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Nguyễn Hoàng M, chị nhất trí để anh Th trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Trọng H và không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Th có nguyện vọng sau khi ly hôn được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai con chung và không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Qua xác minh tại địa phương xác định hiện tại cả chị Ph và anh Th có nghề nghiệp là làm ruộng, vườn, ngoài ra còn đi làm công việc tự do, thu nhập bình quân khoảng 6.000.000đồng đến 7.000.000đồng/tháng. Như vậy với mức thu nhập bình quân như vậy việc giao cả hai con cho một bên nuôi dưỡng sẽ không đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của các cháu. Ngoài ra Hội đồng xét xử thấy rằng khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa Th về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa Th được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Quá trình giải quyết vụ án qua hỏi ý kiến của cháu Nguyễn Trọng H thì cháu Hoàng có nguyện vọng được ở với anh Th. Do vậy để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của các cháu, thấy rằng cần giao cháu Nguyễn Hoàng M cho chị Quách Thị Ph được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giao cháu Nguyễn Trọng H cho anh Nguyễn Quang Th được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Do các bên không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Chị Ph và anh Th xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vay nợ chung: Chị Ph và anh Th cùng xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Quách Thị Ph phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 28; 147; 227; 228; 235; 238; 266; 267; 271; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quách Thị Ph được ly hôn với anh Nguyễn Quang Th.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 19/5/2017 cho chị Quách Thị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Nguyễn Trọng H, sinh ngày 17/11/2011 cho anh Nguyễn Quang Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Ph và anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Chị Ph và anh Th được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở và có quyền đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

- Về án phí: Chị Quách Thị Ph phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0002050 ngày 06/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên. Chị Quách Thị Ph đã nộp đủ án phí.

Anh Nguyễn Quang Th không phải nộp án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hay niêm yết bản án./.

Cỡ chữ