vanban.org

Bản án 185/2019/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/04/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/04/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị N, giữ nguyên bản án

sơ thẩm số 12/2019/HSST ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Tuyên bố bị cáo Tạ Thị Trâm A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Thị Trâm A - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị N, giữ nguyên bản án
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật hình sự và Nghị

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 185/2019/HS-PT
Ngày: 09/4/2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Liệt.

Các Thẩm phán:

1. Ông Đặng Hồng sơn.

2. Ông Phạm Viết Hùng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thăng – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên

tòa: Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 122/2019/HSPT ngày

04/3/2019 đối với bị cáo Tạ Thị Trâm A do có kháng cáo của bị hại Nguyễn

Thị N đối với bản án hình sự sơ thẩm số 12/2019/HSST ngày 25/01/2019 của

Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.

Bị cáo bị kháng cáo: Tạ Thị Trâm A, sinh năm 1996 tại tỉnh Quảng Ngãi;

nơi thường trú: Tổ 22, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở:

31/175F, ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn

bán; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nữ; quốc

tịch: Việt Nam; con ông Tạ Thanh M và bà Tạ Thị A; có chồng Lê Minh T và

02 con sinh năm 2012 và 2014; bị cáo tại ngoại. (có mặt).

Bị hại có kháng cáo: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1982, nơi thường trú:

I8/4 Khu dân cư Cát Tường, ấp P, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. (có mặt).

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự: Luật sư Trần Văn

Thành thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bảo vệ quyền, lợi ích hợp

pháp cho bị hại Nguyễn Thị N. (vắng mặt - trước ngày mở phiên tòa, bà N đã

có đơn từ chối luật sự).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Xuất phát từ mâu thuẫn trước đó giữa Tạ Thị Trâm A và chị Nguyễn Thị

N nên vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 17/6/2018, anh Nguyễn Minh Phúc chồng chị N nhờ một số người quen kêu một số người thân của Tạ Thị Trâm A hẹn đến quán cà phê bên hông chung cư Hoàng Quân thuộc ấp Mỹ Hòa 4, xã Xuân Thới Đông, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh để hòa giải. Tại đây chị N xin lỗi về việc gây ra mâu thuẫn trước đó nhưng Trâm A không bỏ qua, trong lúc người thân của hai bên đang ngồi nói chuyện thì Trâm A đứng dậy đi lại phía sau những người này đến trước mặt chị N dùng tay trái móc dao rọc giấy bật nhú lưỡi ra quẹt ngang má chị N hướng từ trước ra sau gây thương tích rồi bỏ đi. Chị N được mọi người đưa đi cấp cứu và chuyển đến bệnh viện Xuyên Á điều trị, sau đó đến trình báo Công an huyện Hóc Môn. Sau sự việc, Tạ Thị Trâm A bỏ đi đâu không rõ, đến ngày 21/6/2018 thì ra đầu thú và giao nộp con dao gây án cho Công an huyện Hóc Môn.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 607/TgT.18 ngày

03/8/2018 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận thương tích chị Nguyễn Thị N như sau: Dấu hiệu chính qua giám định: vết thương vùng mặt phải gây đứt da, đứt cân cơ vùng mặt, kéo dài lên vành tai phải gây đứt vành tai, đã được khâu vết thương, hiện còn sẹo rõ kích thước 13x(0,05 - 0,3)cm từ vành tai phải xuống má phải ảnh hưởng đến thẩm mỹ (ảnh 1, 2); theo thông tư số 20/2014/TT – BYT ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế quy định về tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 15%, thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn tác động mạnh gây ra.

Vật chứng thu giữ: 01 con dao rọc giấy bằng kim loại màu trắng dài

khoảng 13cm; 02 tấm hình.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số12/2019/HSST ngày 25/01/2019 của Tòa

án nhân dân huyện Hóc Môn đã tuyên bố bị cáo Tạ Thị Trâm A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

điểm i khoản 1 Điều 52; khoản 1, khoản 2 Điều 65; Điều 32, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Tạ Thị Trâm A 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm, tính từ ngày tuyên án.

Ngày 29/01/2019, bị hại Nguyễn Thị N có đơn kháng cáo đối với bản án

hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn với lý do là mức án đối với bị cáo là quá nhẹ, đề nghị xử phạt tù không cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, người bị hại Nguyễn Thị N

không thay đổi, bổ sung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử không cho bị cáo được hưởng án treo vì Tòa án huyện Hóc Môn cho bị cáo hưởng án treo là quá nhẹ, chưa đúng với mức độ, hành vi bị cáo gây ra, không đủ sức răn đe bị cáo.

Bị cáo Tạ Thị Trâm A thừa nhận những hành vi phạm tội do bị cáo gây

ra như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu, bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi

phạm tội của mình, xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được

hưởng án treo để có điều kiện nuôi con, chăm sóc gia đình.

Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh đã xác định bản án sơ thẩm đã áp dụng đúng các căn cứ pháp luật để xử

phạt bị cáo Tạ Thị Trâm A về tội “Cố ý gây thương tích”theo điểm đ khoản 2

Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; khoản

1, khoản 2 Điều 65; Điều 32, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ

sung năm 2017, xử phạt Tạ Thị Trâm A 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho bị cáo

hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm, tính từ ngày tuyên án là có căn

cứ, đúng pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm bị hại kháng cáo trong thời gian hợp lệ. Tại phiên

tòa, bị hại đề nghị không cho bị cáo được hưởng án treo vì cho rằng tòa án sơ

thẩm xử phạt như vậy là quá nhẹ, chưa đúng với mức độ, hành vi bị cáo gây ra,

không đủ sức răn đe bị cáo là không có cơ sở vì tòa án cấp sơ thẩm khi quyết

định hình phạt đã căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, cân nhắc

tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân

người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên hình phạt đã

tuyên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử áp

dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp

nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị hại không tranh luận, bị cáo Tạ Thị Trâm A xin Hội đồng xét xử cho

bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện

Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên,

Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố,

xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật

tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý

kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng,

người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan

tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, bị cáo Tạ Thị Trâm A đã

thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội dung bản án sơ

thẩm đã nêu, cụ thể: Do mâu thuẫn với nhau việc buôn bán trái cây trong chợ

nông sản thực phẩm Hóc Môn nên sáng ngày 17/6/2018 giữa chị Nguyễn Thị

N và bị cáo xảy ra xô xát. Sau đó, sự việc đã được Công an xã Xuân Thới

Đông giải quyết. Đến 21 giờ cùng ngày anh Nguyễn Minh Phúc (chồng chị N)

nhờ người quen mời người thân của bị cáo gặp nhau tại quán cafe bên hông

chung cư Hoàng Quân thuộc xã Xuân Thới Đông để hòa giải sự việc trên. Khi hai bên còn đang nói chuyện thì bị cáo đi lại phía chị N dùng tay trái móc dao rọc giấy bật nhú lưởi dao ra rồi quẹt ngang mặt chị N 01 nhát rồi bỏ đi, chị N được đưa đi cấp cứu. Theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 607/TgT.18 ngày 03/8/2018 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Vết thương vùng mặt gây rách da, đứt cân cơ vùng mặt, kéo dài lên vành tai phải gây đứt vành tai, đã được khâu vết thương, hiện còn sẹo rõ kích thước 13x3(0,05-3)cm từ vành tai phải xuống má phải ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 15%. Ngày 21/6/2018 bị cáo đầu thú và giao nộp con dao gây án.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan

điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của người bị hại, người làm chứng, kết luận giám định pháp y, vật chứng thu giữ. Việc bị cáo dùng dao rạch vào mặt bị hại là tình tiết tăng nặng định khung nên tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội với phụ nữ có thai; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại; được người bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đang nuôi 02 con còn nhỏ; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú. Do đó, áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; khoản 1, khoản 2 Điều 65; Điều 32, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Tạ Thị Trâm A 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm về tội “ Cố ý gây thương tích” là áp dụng đúng pháp luật về hình phạt chính và chế định về án treo theo Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao .

[4] Tại phiên tòa hôm nay, bị hại đề nghị không cho bị cáo được hưởng

án treo nhưng lại thừa nhận ngày 15/01/2019 đã tự nguyện làm đơn bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện nuôi dạy 02 con nhỏ và chăm lo gia đình đang gặp khó khăn và cam kết không thưa kiện, khiếu nại hay thắc mắc đòi hỏi gì nữa. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại.

Bị hại, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp

luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị N, giữ nguyên bản án

sơ thẩm số 12/2019/HSST ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hóc

Môn.

Tuyên bố bị cáo Tạ Thị Trâm A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

điểm i khoản 1 Điều 52; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65; Điều 32, Điều 50

Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Tạ Thị Trâm A

02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử

thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Tạ Thị Trâm A cho Ủy ban nhân dân xã Tân Thới Nhì, huyện

Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện

theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa

vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo

phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Bị cáo Tạ Thị Trâm A, bị hại Nguyễn Thị N không phải chịu án phí hình

sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị

có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ