- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn T - Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Ph ng Hoàng A;
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 185/2019/HS-PT Ngày: 22-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Văn Chum;
- Các Thẩm phán:
Ông Bùi Ngọc Thạch;
Ông Trần Văn Luông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 và 22 tháng 11 năm 2019 tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà t ph c th m công khai v án hình sự th lý số 179/2019/TLPT-HS ngày 24 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Tấn T. Do có kháng cáo của bị hại Trần Ph ng Hoàng A đối với Bản án hình sự sơ th m số 220/2019/HS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị ã D tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo: Nguyễn Tấn T, sinh năm 1992 tại tỉnh Bình Dương; hộ kh u thường tr : Số 269 đường N, khu phố Đ phường D thị ã D tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Trần Thị Tuyết M sinh năm 1951; có 03 anh chị lớn nhất sinh năm 1978 nhỏ nhất sinh năm 1989; có vợ tên Bùi Dương Tr c T sinh năm 1992; có 01 con sinh năm 2015; tiền án tiền sự: Không bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Bị hại có kháng cáo: Ông Trần Ph ng Hoàng A sinh năm 1982; địa chỉ: Số 52 đường Nguyễn Ái Q khu phố 3 phường T thành phố B tỉnh Đ; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Đỗ Văn Vinh - Luật sư Công ty luật TNHH V, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Dương; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Nguyễn Minh D sinh năm 1977; địa chỉ: hộ kh u thường tr : Số 269 đường N, khu phố Đ phường D thị ã D tỉnh Bình Dương; có yêu cầu t
vắng mặt.
2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung sinh năm 1980; địa chỉ: hộ kh u thường tr : Số 269 đường N, khu phố Đ phường D thị ã D tỉnh Bình Dương; có yêu cầu t vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Lê Quốc V sinh năm 1993; địa chỉ: Số 31 đường Hà Huy G phường Q Thành phố B tỉnh Đ; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:
Ông Trần Ph ng Hoàng A hợp tác làm ăn với vợ chồng bà Nguyễn Thị Tuyết N và ông Nguyễn Minh D m c a hiệu Spa Hoàng A tại địa chỉ số 269, đường N, khu phố Đ phường D thị ã D tỉnh Bình Dương từ tháng 05/2018. Do có mâu thuẫn trong hợp tác kinh doanh giữa vợ chồng bà N với ông A nên khoảng 15 giờ ngày 01/10/2018 ông A đến tiệm Spa yêu cầu ông D và bà N tháo gỡ biển hiệu nhưng bà N và ông D không đồng ý và ảy ra mâu thuẫn, lúc này Nguyễn Tấn T em trai bà N nhặt dưới đường 01 c c đá màu ám có kích thước ngang 10cm dài 15cm n m mạnh vào nắp cốp sau e ô tô con nhãn hiệu Huyndai Genesis màu trắng biển số 60A-143.55 của ông A đang đỗ trước tiệm Spa Hoàng A, làm nứt cốp sau e c c đá văng lên tr ng vào kính sau e gây hư hỏng.
Tại kết luận định giá tài sản số 286/BB.ĐG ngày 09/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản thị ã D, kết luận: Tấm kính sau e của ô tô con nhãn hiệu Huyndai Genesis màu trắng biển số 60A-143.55 trị giá là 13.000.000 đồng. Nắp cốp sau (chất liệu Carbon) e ô tô con nhãn hiệu nhãn hiệu Huyndai Gensesis màu trắng biển số 60A-143.55 trị giá là: 13.000.000 đồng.
Vật chứng thu giữ và lý vật chứng:
- 01 xe ô tô con nhãn hiệu Huyndai Genesis màu trắng biển số 60A-143.55.
- 01 c c đá màu ám có kích thước chiều ngang 10cm dài 15cm.
Về trách nhiệm dân sự: Xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Genesis màu trắng biển số 60A-143.55 đã trả lại cho bị hại. T đã nộp bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 26.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ th m số 220/2019/HS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị ã D tỉnh Bình Dương đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Áp d ng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017.
X phạt bị cáo Nguyễn Tấn T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hư ng án treo thời gian th thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 06/8/2019).
Giao bị cáo Nguyễn Tấn T cho UBND phường D thị ã D giám sát giáo d c trong thời gian th thách. Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Tấn T thay đổi nơi cư tr thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật Thi Hành án Hình sự.
Trong thời gian th thách nếu người được hư ng án treo cố ý vi phạm nghĩa v theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần tr lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hư ng án treo.
Ngoài ra bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, lý vật chứng án phí quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 21/8/2019, bị hại Trần Ph ng Hoàng A có đơn kháng cáo về việc yêu cầu hủy bản án sơ th m do bỏ lọt tội phạm và yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Tấn T.
Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Bị hại thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa v án ra t ph c th m là đ ng th m quyền đ ng quy định của pháp luật. Về nội dung: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho ã hội không những trực tiếp âm phạm đến quyền s hữu tài sản được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức rõ hành vi dùng c c đá là vật cứng ném vào xe ô tô của người khác có thể làm hư hỏng tài sản nhưng vẫn cố ý thực hiện. Sau khi xét x sơ th m, bị hại có đơn kháng cáo em t có vai trò đồng phạm của Nguyễn Thị Tuyết N em t tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất côn đồ đồng thời yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo.
Đối với vai trò đồng phạm của bà Nguyễn Thị Tuyết N. Do mâu thuẫn trong việc hợp tác kinh doanh với bị hại nên bà N tức giận nhặt c c đá định n m vào e ô tô của bị hại nhưng được người làm chứng Lê Quốc V (do bị hại thuê đến tháo gỡ bảng hiệu) can ngăn nên bà N đã vứt bỏ c c đá thì bị cáo tự ý đi đến nhặt c c đá n m vào e bị hại nên không có vai trò đồng phạm của bà N.
Đối với hành vi của bị cáo phạm tội mang tính chất côn đồ: Bị cáo và bà N là chị em ruột với nhau nhà gần nhau nơi kinh doanh c a hiệu Spa Hoàng A. Bị cáo biết được ngày 29/9/2018 bị hại A đã thuê lực lượng bảo vệ mang công c hỗ trợ đến c a hiệu Spa Hoàng A để làm rõ mâu thuẫn giữa bị hại và ông D, bà N nên những người có mang công c hỗ trợ đã bị phạt hành chính. Ngày 01/10/2018 bị hại thuê người đến tháo gỡ bảng hiệu Spa gây khó khăn cho việc làm ăn kinh doanh làm mất uy tín của người thân gia đình của bị cáo nên bị cáo tức giận và có phản ứng n m đá vào e ô tô của bị hại là sự hỗ trợ bảo vệ người trong gia đình nên không có căn cứ áp d ng tình tiết tăng nặng phạm tội mang tính chất chất côn đồ đối với bị cáo.
Tuy nhiên Tòa án cấp sơ th m t đối với v án có nhiều vi phạm nghiêm trọng thủ t c tố t ng như: Không công bố lời khai người tham gia tố t ng vắng mặt tại phiên tòa; Biên bản nghị án không thể hiện Hội đồng t biểu quyết phần vật chứng của v án nhưng nội dung bản án có thể hiện; nội dung bản án trình bày chưa đầy đủ theo mẫu quy định; ác định tội danh chưa chính xác. Nhận thấy, cấp sơ th m có nhiều vi phạm tố t ng nghiêm trọng mà cấp phúc th m không thể khắc ph c được nên cần thiết hủy án Bản án sơ th m để xét x lại đ ng theo quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Do đề nghị hủy án để xét x lại nên không xem xét yêu cầu kháng cáo của bị hại.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày quan điểm tranh luận: Trong quá trình giải quyết v án, giữa bị cáo và bị hại không mâu thuẫn gì với nhau nguyên nhân là do mâu thuẫn trong kinh doanh giữa ông D, bà N với bị hại. Lời khai bị cáo là không khách quan và nhiều mâu thuẫn, lời khai ban đầu của bị cáo tại tại Cơ quan điều tra là bị cáo chạy đến cầm c c đá từ trên tay bà N nhưng sau khi lấy lời khai của bà N tại Cơ quan điều tra thì bị cáo lại thay đổi khai là lấy c c đá từ dưới đất bị cáo là một đảng viên nhưng thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất côn đồ. Do đó Tòa án cấp sơ th m t cho bị cáo được hư ng án treo là chưa tương ứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ lời khai của người làm chứng Lê Quốc V là có ôm và nghe bà N i gi c bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhưng tại phiên tòa sơ th m không cho ông V khai tại phiên tòa. Sau khi được Cơ quan điều tra lấy lời khai, ông V cho rằng do quá run nên ông V khai theo hướng dẫn của Công an trong quá trình lấy lời khai không có bản tự khai do ông V tự viết ra. Vì vậy lời khai được Cơ quan điều tra lấy từ ông V là không khách quan nên đề nghị Hội đồng t ph c th m chấp nhận yêu cầu của đại diện Viện Kiểm sát là hủy án sơ th m đồng thời yêu cầu điều tra t lại để làm rõ hành vi của bị cáo và vai trò đồng phạm trong v án để đảm bảo cho v án được khách quan.
Trong lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Tấn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình mong Hội đồng t
em t cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đồng t nhận định như sau:
Ông Trần Ph ng Hoàng A hợp tác làm ăn cùng với vợ chồng bà Nguyễn Thị Tuyết N và ông Nguyễn Minh D; trong hợp tác hai bên ảy ra mâu thuẫn. Khoảng 15 giờ ngày 01/10/2018, ông A đến c a tiệm Spa Hoàng A yêu cầu ông D và bà N tháo gỡ biển hiệu nhưng bà N và ông D không đồng ý nên ảy ra mâu thuẫn lớn tiếng với nhau Nguyễn Tấn T em trai bà N nhặt 01 c c đá màu xám trên đường có kích thước ngang 10cm dài 15cm n m mạnh vào nắp cốp sau e ô tô con nhãn hiệu Huyndai Genesis màu trắng biển số 60A-143.55 của ông A đang đỗ trước c a hiệu Spa Hoàng A làm nứt cốp sau e c c đá văng lên tiếp t c tr ng vào kính sau e gây hư hỏng và thiệt hại về tài sản với tổng trị giá theo Kết luận định giá tài sản số 286/BB.ĐG ngày 09/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản thị ã D là 26.000.000 đồng.
X t kháng cáo của bị hại Trần Ph ng Hoàng A về việc hủy bản án sơ th m vì bỏ lọt tội phạm là bà Nguyễn Thị Tuyết N với vai trò là đồng phạm trong việc bà N đã có hành vi i gi c bị cáo thực hiện hành vi phạm tội: Căn cứ vào lời khai của bị cáo người có quyền lợi nghĩa v liên quan Nguyễn Minh D (BL31-32) Nguyễn Thị Tuyết N (BL205-206) và người làm chứng Nguyễn Văn H (BL203-204), Nguyễn Văn O (BL35-36), Lê Trung H (BL37-38) Lê Văn Tuấn A (BL43-44) thì không có việc bà N i gi c bị cáo n m đá vào e của bị hại; căn cứ lời khai người làm chứng Lê Quốc V (BL 209-210) mà bị hại cho rằng ông V là người biết rõ hành vi của bà N trong việc xúi gi c bị cáo n m đá vào e của bị hại. Ông V khai là l c ảy ra cải vã thì thấy bà N cầm c c đá định ném vào xe bị hại nhưng được ông V can ngăn nên bà N n m c c đá uống đường, ông V cũng không có ôm bà N lại và cũng không nghe thấy bà N nói gì. Tại phiên tòa ph c th m bị hại không ác định được bị cáo lấy c c đá từ đâu cũng không nghe thấy bà N i gi c bị cáo n m đá vào e bị hại. Vì vậy, không có căn cứ để ác định hành vi của bà N là đồng phạm trong v án. Do đó Hội đồng t không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại. Ngoài ra, bị hại trình bày trong quá trình điều tra bổ sung để làm rõ hành vi phạm tội của bà N thì ông V cho bị hại biết là khi lấy lời khai đã bị Điều tra viên hướng ông V khai theo hướng là bà N không có tội. Hội đồng t
t thấy quá trình điều tra và sau khi kết th c điều tra ông V không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng nên ý kiến này của bị hại là không có cơ s chấp nhận.
Xét kháng cáo của bị hại cho rằng bị cáo Nguyễn Tấn T thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất côn đồ nên yêu cầu em t tình tiết tăng nặng đồng thời tăng mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng t
ét thấy, sự việc ảy ra cũng có một phần lỗi của bị hại trong việc bị hại đã thuê người đến tháo bảng hiệu Spa Hoàng A, gây khó khăn cho việc làm ăn kinh doanh của người thân bị cáo nhưng do bị cáo quá tức giận không kiềm chế được bản thân trong việc bảo vệ người thân nên đã có hành vi ném đá gây hư hỏng e ô tô của bị hại. Do đó không có căn cứ áp d ng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo là phạm tội mang tính chất chất côn đồ. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự có nơi cư tr rõ ràng có nhiều tình tiết giảm nh không có tình tiết tăng nặng việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hư ng ấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Tòa án cấp sơ th m áp d ng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo hư ng án treo là đã đủ răn đe giáo d c bị cáo. Vì vậy yêu cầu kháng cáo của bị hại về việc áp d ng tình tiết tăng nặng đồng thời tăng mức hình phạt đối với bị cáo là không được chấp nhận.
X t ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại yêu cầu hủy bản án sơ th m cho rằng v án có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đồng thời tăng mức hình phạt đối với bị cáo vì hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất côn đồ. Như đã phân tích đối với yêu cầu kháng cáo của bị hại. Hội đồng t
t thấy ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại cũng không có cơ s chấp nhận.
Tòa án cấp sơ th m áp d ng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo được hư ng án treo nhưng không áp d ng Nghị quyết số 02/2018/NQ–HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp d ng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo nên Tòa án ph c th m cần bổ sung.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc không có căn cứ áp d ng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo là phạm tội mang tính chất chất côn đồ và ác định bà Nguyễn Thị Tuyết N không có vai trò đồng phạm trong v án là phù hợp với nhận định của Hội đồng t .
Đối với yêu cầu hủy án sơ th m để t lại do vi phạm nghiêm trọng thủ t c tố t ng không thể khắc ph c được. Hội đồng xét x xét thấy, tại phiên tòa ph c th m Hội đồng xét x đã công bố bổ sung lời khai của người có quyền lợi nghĩa v liên quan và người làm chứng vắng mặt đồng thời t thấy tại phiên tòa sơ th m cũng đã trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần để đưa người làm chứng vào trong v án để làm rõ vai trò và hành vi đồng phạm trong v án. Vì vậy những vi phạm của Tòa án cấp sơ th m là có thể khắc ph c được tại phiên tòa ph c th m đồng thời những vi phạm này không làm thay đổi nội dung bản chất của v án. Do đó t thấy không cần thiết phải hủy án sơ th m để t lại.
Bị cáo s d ng c c đá n m mạnh vào xe làm vỡ kính sau và nứt cốp sau e của bị hại. Hành vi này của bị cáo chỉ làm giảm giá trị s d ng của xe và giá trị s d ng bị giảm đã khôi ph c lại được nên hành vi của bị cáo là hành vi của tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Do tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nh hơn tội “Hủy hoại tài sản” nhưng được quy định trong cùng một điều luật của Bộ luật Hình sự năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017 nên ý kiến của Viện kiểm sát đề nghị ác định lại tội danh đối với bị cáo là phù hợp. Vì vậy Hội đồng t chấp nhận đồng thời chuyển đổi tội danh của bị cáo tại phiên tòa ph c th m thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nên cần s a án sơ th m về tội danh nhưng không cần thiết phải hủy án để điều tra ác định lại tội danh của bị cáo.
Các phần khác của quyết định bản án sơ th m không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Án phí hình sự ph c th m: Bị cáo Nguyễn Tấn T không phải nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a b khoản 1 Điều 355 Điều 356 và Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Ph ng Hoàng A;
2. S a Bản án hình sự sơ th m số 220/2019/HS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị ã D tỉnh Bình Dương như sau:
Áp d ng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017.
Áp d ng Nghị quyết số 02/2018/NQ–HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao về Hướng dẫn áp d ng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
X phạt bị cáo Nguyễn Tấn T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nhưng cho hư ng án treo thời gian th thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 06/8/2019).
Giao bị cáo Nguyễn Tấn T cho UBND phường D thị ã D giám sát giáo d c trong thời gian th thách. Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Tấn T thay đổi nơi cư tr thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật Thi Hành án Hình sự.
Trong thời gian th thách nếu người được hư ng án treo cố ý vi phạm nghĩa v theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần tr lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hư ng án treo.
3/ Về án phí hình sự ph c th m: Áp d ng Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Tấn T không phải nộp.
4/ Các phần khác của quyết định án sơ th m không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án ph c th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - TAND thị ã D; 2 - VKSND thị ã D; 1 - Chi c c THADS thị ã D; 1 - Phòng PV06 - Công an tỉnh BD; 1 - Công an thị ã D; 1 - S Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 1 - Bị cáo; - Bị hại; 1 - Người có quyền lợi nghĩa v liên 2 quan; - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp 1 pháp; - Lưu: Tổ HCTP HSVA Tòa HS. 3 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Văn Chum |