vanban.org

Bản án 185/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: NGUYỄN MINH H 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bi ̣ bắt ta ̣m giữ, tạm giam: 01/6/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Hoàng - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2017/HSST
Ngày : 23/11/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Minh Tuân

2/ Bà Bùi Thị Minh Tâm

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Tân Bình - Tp. Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Tố Trinh - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 201/2017/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN MINH H; giới tính: nam; sinh năm: 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số nhà 165/72 đườ ng P, phường 5, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: số nhà 165/72 đườ ng P, phường 5, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị Minh T; vợ, con: chưa có; tiền án: ngày 17/01/2014 Tóa án nhân dân quân Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/03/2017; Tạm giữ, tạm giam: ngày 01/6/2017.

(Có mặt tại phiên tòa)

Ngườ i bi ̣ hại: Chị Bùi Trương Linh T, sinh năm 1990

Địa chỉ: số nhà 48/6B đườ ng T, phường P, Quận C, Thành phố Hồ Chi Minh.́

(vắng mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Minh T, sinh năm 1966

Địa chỉ: số nhà 165/72 đườ ng P, Phường 5, quận T, Thành phố Hồ Chi Minh.́

(vắng mặt tại phiên tòa)

NHẬN THẤY:

Bị cáo Nguyễn Minh H bị Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 01/06/2017, Tổ công tác Hình sự Đặc nhiệm Đội 3 -PC45 - Công an Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra trên các tuyến đường thuộc địa bàn quận Tân Bình. Khi đến trước số nhà 235 đườ ng Cộng Hòa, Phường 13, quận Tân Bình thì phát hiện Nguyễn Minh H điều khiển xe gắn máy hiệu Wave S biển số 59P2-178.51 áp sát vào chị Bùi Trương Linh T đang đi bộ trên lề đường rồi dùng tay trái giật sợi dây chuyền chị T đang đeo trên cổ. Tuy nhiên, H chi lấy được mặt dây chuyền,̉ còn sợi dây chuyền thi vướ ng la ̣i trên cổ ngườ i bi ̣ ha ̣i. Sau khi giâ ̣t dây chuyền H tăng

̀ ga để tẩu thoát, nhưng mớ i cha ̣y đến ngã ba đường Nguyễn Minh Hoàng - Hoàng Hoa Thám thì bị tổ tuần tra cùng 02 người đi đường đuổi theo bắt giữ cùng phương tiện và tang vật giao cho Công an Phường 13, quận Tân Bình xử lý.

Quá trình điều tra Nguyễn Minh H khai nhận: khoảng 13 giờ 00 phút ngày 01/06/2017, trên đường về nhà H phát hiện 01 người phụ nữ đang đi bộ, trên cổ có đeo sợi dây chuyền. Do bản thân không có tiền tiêu xài nên H nảy sinh lòng tham và đa ̃ thực hiện hành vi điều khiển xe gắn máy áp sát vào người phụ nữ để giật sợi dây chuyền nhưng chỉ lấy được 01 mặt dây chuyền có hột đá màu đỏ. Lời khai của H phù hợp với báo cáo trinh sát của cán bộ tuần tra, lời khai của ngườ i làm chứng và bị hại.

Tài sản bị chiếm đoạt: 01 mặt dây chuyền kim loại vàng 18K, có gắn hột đá màu đỏ, trọng lượng 3 phân 8 ly, kết quả định giá trong tố tụng hình sự có giá trị: 950.114 đồng và 01 sợi dây chuyền kim loại vàng 18K, trọng lượng 7 phân 3 ly, kết kết quả định giá trong tố tụng hình sự có giá trị: 1.825.219 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo H chiếm đoạt là 2.275.333 đồng.

Vật chứng vụ án:

- 01 mặt dây chuyền kim loại vàng 18K, có gắn hột đá màu đỏ và 01 sợi dây chuyền kim loại vàng 18K đã thu hồi trả lại cho bị hại T;

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S7 màu hồng, là tài sản cá nhân của H.

- 01 áo khoác dài tay màu xám xanh thu giữ của H;

- 01 xe gắn máy hiệu Wave S biển số 59P2-178.51 là phương tiện gây án. Qua xác minh chủ sở hữu hợp pháp là bà Lê Thị Minh T, mẹ của H. Bà T khai H mượn xe đi chơi sau đó sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi cướp giật tài sản bà không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho bà T.

Tại bản cáo trạng số 152/CTr-VKS ngày 20 tháng 10 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tô ̣i “Cướp giật tài sản” theo điểm c, d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa hôm nay, sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tô ̣i “Cướp giật tài sản” theo điểm c, d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 06 năm đến 07 năm tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY:

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo tra ̣ng của Viện kiểm sát đã truy tố và khai:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 01/06/2017, trên đường đi chơi về thì phát hiện một người phụ nữ đang đi bộ, trên cổ có đeo sợi dây chuyền. Do bản thân không có tiền tiêu xài và trướ c đó có sử du ̣ng ma tú y nên không kiểm soát được bản thân vì vâ ̣y bi ̣ cáo đa nảy sinh ỹ

́ đi ̣nh cướ p giâ ̣t để bán lấy tiền nên đa điều khiển xe gắn máy áp sát̃ vào người phụ nữ rồi giật sợi dây chuyền nhưng chỉ lấy được 01 mặt dây chuyền còn sợi dây chuyền thi không lấy đượ̀

c. Sau khi giâ ̣t bi ̣ cáo cho mă ̣t dây chuyền vào túi áo khoác đang mă ̣c rồi tăng ga bỏ cha ̣y, nhưng mớ i cha ̣y được mô ̣t đoa ̣n thi bi ̣̀ bắt giữ.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, căn cứ kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, căn cứ các điều luật tương ứng do Bộ luật hình sự quy định. Hội đồng xét xử xét thấy bi ̣ cáo đa bi ̣̃ kết án về tô ̣i rất nghiêm tro ̣ng do cố ý, chưa được xóa án tich́ mà la ̣i pha ̣m tô ̣i rất nghiêm tro ̣ng do cố ý là thuô ̣c trườ ng hợp “tái pha ̣m nguy hiểm” và sử du ̣ng xe gắn máy làm phương tiê ̣n cướ p giâ ̣t là thuô ̣c trườ ng hợp “dùng thủ đoa ̣n nguy hiểm”. Do đó đã đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Minh H đã pha ̣m vào tô ̣i “cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 như cáo tra ̣ng Viê ̣n kiểm sát đa truy tỗ

́.

Hành vi pha ̣m tô ̣i của bi ̣ cáo là rất nghiêm tro ̣ng, nguy hiểm cho xa hô ̣̃ i, đã xâm pha ̣m tớ i quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luâ ̣t nhà nướ c bảo vê ̣, làm ảnh hưở ng xấu tớ i trâ ̣t tự tri ̣ an ta ̣i đi ̣a phương.

Bi ̣ cáo nhâ ̣n thứ c được hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi pha ̣m pháp luâ ̣t, nhưng do tham lam, muốn có tiền thỏa man nhu cầu cũ

̉a cá nhân nên đa cỗ ́ ý phạm tội, bi ̣ cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án chưa được xóa án tich nay lại tiếp tụć phạm tội chứ ng tỏ bi ̣ cáo coi thườ ng pháp luâ ̣t. Vì vậy cần xử bị cáo mức án phù hợp mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừ a chung.

Tuy nhiên, xét trong qúa trinh điều tra và

̀ ta ̣i phiên tòa bi ̣ cáo đa thã ̀nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải; pha ̣m tô ̣i nhưng gây ra thiê ̣t ha ̣i không lớ n, nên cần áp du ̣ng các tinh tiết già

̉m nhe ̣ được quy đi ̣nh ta ̣i g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 để giảm nhe ̣ một phần hinh pha ̣̀

t cho bi ̣ cáo.

Về trách nhiê ̣m dân sự: Ngườ i bi ̣ ha ̣i vắng mă ̣t nhưng căn cứ vào hồ sơ vu ̣ án, xét thấy ngườ i bi ̣ ha ̣i đa nhâ ̣̃

n la ̣i tài sản, hiê ̣n nay không có thắc mắc khiếu na ̣i gi nêǹ không có gi phà

̉i giải quyết.

Về vật chứng:

Đối vớ i 01 mặt dây chuyền kim loại vàng 18K, có gắn hột đá màu đỏ và 01 sợi dây chuyền kim loại vàng 18K đa trả lại cho ngưỡ

̀ i bi ̣ ha ̣i bà Bùi Trương Linh T. Hiê ̣n nay không có ai thắc mắc, khiếu na ̣i gì nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

Đối vớ i 01 xe gắn máy hiệu Wave S, biển số 59P2-178.51 là phương tiện gây án. Qua xác minh chủ sở hữu hợp pháp là bà Lê Thị Minh T, mẹ của bị cáo H. Bà T khai H mượn xe đi chơi sau đó sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi cướp giật tài sản bà không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho bà T, hiê ̣n nay không có ai thắc mắc khiếu na ̣i gi nên Hô ̣̀

i đồng xét xử không có gi phà

̉i giải quyết.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S7, số imel: 35564707277599, xét đây là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bi ̣ cáo.

Đối với 01 cái áo khoác dài tay màu xanh xám, thu giữ khi bắt bi ̣ cáo. Xét không còn giá tri ̣ sử du ̣ng nên tịch thu tiêu hủ y.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng điểm c,d khoản 2 Điều 136; điểm g, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009;

Xử phạt: NGUYỄN MINH H 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày bi ̣ bắt ta ̣m giữ, tạm giam: 01/6/2017.

Áp dụng khoản 1, điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Minh H: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S7, số imel: 35564707277599.

Ti ̣ch thu tiêu hủ y: 01 cái áo khoác dài tay màu xanh xám (được niêm phong trong 01 gói bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Minh H và dấu mộc Công an phường 13, quận Tân Bình).

(Tình trạng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 182/PNK ngày 26/9/2017)

Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghi ̣ quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phí và lê ̣ phi Tó ̀a án:

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sư có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).

Hội đồng xét xử đã giải thích về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án cho đương sự theo quy định tại Điều 26 Luật Thi hành án (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ