- Tranh chấp gì? "Lò Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN ___________ Bản án 184/2018/HSST Ngày: 14/ 8/2018 NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Bạc Thị Liên
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lường Văn Hịa
2. Ông Cà Văn Pánh
-Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Đoản - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Thái - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 14/8/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 191/2018/HSST ngày 20/7/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2018/QĐXXST-HS ngày 02/8/2018 đối với bị cáo: 1. Họ và tên: Lò Văn H. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1991; Giới tính: Nam. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Bản K, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 12/12. Dân tộc: Thái. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không Bố đẻ: Lường Văn N(đã chết). Mẹ đẻ: Lò Thị T, sinh năm: 1966 Bố dượng: Lò Văn Q, sinh năm 1962. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình: Bị cáo có vợ Lò Thị P, sinh năm 1993 đã ly hôn năm 2015, bị cáo có 01 con sinh năm 2012. Tiền án; Tiền sự: Không: Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị Tòa án xét xử. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 20/5/2018, bị cáo có mặt tại phiên toà. 2. Người bị hại: Anh Lường Văn B, sinh năm 1988. Trú tại: Bản T 1, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.( có mặt).
NỘI DUNG VU ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn H đến nhà anh Lường Văn B, sinh năm 1988 ở bản T 1, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, để xây tường bao thuê và nghỉ lại nhà anh B từ chiều ngày 19/5/2018. Sáng ngày 20/5/2018 sau khi ngủ dậy, H nhìn qua cửa phòng ngủ thấy một chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 27B1-269.30 và một chiếc cưa máy màu đỏ, nhãn hiệu Husevorna(365) đang để dưới gầm sàn nhà gần nơi H ngủ. Quan sát xung quanh thấy không có ai, H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe môtô và chiếc cưa máy để bán lấy tiền tiêu sài. H lấy một chiếc kéo cắt giấy, cán bọc nhựa, lưỡi bằng kim loại trắng dưới nền nhà và dùng tay phải cầm kéo cắm vào ổ khóa điện của xe môtô thấy mở được ổ khóa điện H nổ máy và lấy chiếc cưa máy đặt lên giữa yếm xe, còn chiếc kéo H cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc và điều khiển xe môtô ra quốc lộ 279 hướng hướng huyện M, tỉnh Điện Biên. Khi H đi được khoảng 50m thì bị anh B phát hiện và yêu cầu H dừng xe lại, nhưng H vẫn tiếp tục điều khiển xe môtô bỏ chạy. Hồi 05 giờ 50 phút cùng ngày khi H điều khiển xe môtô đến đoạn đường thuộc bản T, xã N, huyện Đ thì bị Lường Văn B và tổ công tác Đồn Công an xã N, Công an huyện Đ bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 18/KL - ĐG ngày 23/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ, đã xác định giá trị của chiếc xe môtô nhãn hiệu HonDa WaveAnphal màu đỏ đen- bạc biển kiểm soát 27B1- 269.30 do Lò Văn H trộm cắp có giá trị là 7.000.000đ. 01 cưa máy mầu đỏ nhãn hiệu Husevorna(365) giá trị 4.000.000 đồng: 01 kéo cắt giấy cán bọc nhựa, lưỡi bằng kim loại trắng trị giá 20.000đ.Tổng giá trị tài sản do bị cáo H trộm cắp là 11.020.000đ ( mười một triệu không trăm hai mươi nghìn đồng)
Tại bản cáo trạng số 138/CT- VKS- HĐB ngày 20/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Lò Văn H về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173/BLHS. Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về “Tội trộm cắp tài sản”; Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173/BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS; Xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 09 đến 12 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị HĐXX xem xét miễn án phí đối với bị cáo.
Bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố của VKSND huyện Đ không có ý kiến gì tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.
Người bị hại có mặt tại phiên tòa không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại, còn về hình phạt đề nghị xét xử bị cáo đúng pháp luật;
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.
. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lò Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cũng như bản cáo trạng của VKS đã truy tố đối với bị cáo.
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Do có mối quan hệ quen biết gia đình người bị hại Lường Văn B bị cáo ngủ tại nhà anh B. H đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản, khi thấy vợ chồng anh B chưa ngủ dậy bị cáo lén lút lấy chiếc kéo cắm vào ổ khóa điện của xe môtô thấy mở được ổ khóa điện H nổ máy và lấy chiếc cưa máy đặt lên giữa yếm xe, còn chiếc kéo H cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc và điều khiển xe môtô ra quốc lộ 279 theo hướng huyện M với mục đích đi bán lấy tiền đi tiêu xài và mua ma túy sử dụng cho bản thân vì bị cáo nghiện ma túy. Bị cáo đi được khoảng 1km thì bị bắt giữ.
Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã hoàn thành, theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ định giá trị của chiếc xe môtô nhãn hiệu HonDa WaveAnphal màu đỏ- đen- bạc biển kiểm soát 27B1- 269.30 do Lò Văn H trộm cắp có giá trị là 7.000.000đ. 01 cưa máy mầu đỏ nhãn hiệu Husevorna(365) giá trị 4.000.000đồng; 01 kéo cắt giấy cán bọc nhựa, lưỡi bằng kim loại trắng trị giá 20.000đ. Tổng giá trị tài sản do bị cáo H trộm cắp là 11.020.000đ (mười một triệu không trăm hai mươi nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1Điều 173/BLHS.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.
. Xét tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy : Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây thiệt hại về tài sản cho chủ sở hữu, làm ảnh hưởng đến nền trật tự trị an, an toàn trong xã hội trên địa bàn xã N nói riêng và huyện Đ nói chung, cho nên hành vi của bị cáo cần được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Lò Văn H thấy rằng: Sinh ra và lớn lên tại T học lớp 12/12 bỏ học, năm 2010 kết hôn với Lò Thị P, năm 2013 đi cai nghiện tại Trung tâm cai nghiện bắt buộc 05-06 tỉnh Điện Biên, năm 2015 ly hôn vợ. Ngoài lần phạm tội này ra theo lời khai của bị cáo: Ngày 17/5/2018 bị cáo H còn trộm cắp của anh Lò Văn L, sinh năm 1991, trú tại bản K, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên một chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHASIRUS, biển kiểm soát 27Z1-069.74. Vụ việc đã được cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Điện Biên khởi tố điều tra để xét xử bằng một vụ án khác. Nên HĐXX không đề cập xử lý trong vụ án này. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố và tại phiên Tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51/ BLHS đối với bị cáo.
HĐXX xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cai nghiện ma túy, tiếp tục cải sửa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
. Theo quy định tại khoản 5 Điều 173/BLHS thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền; Song xét thấy điều kiện bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nguồn thu nhập chính là từ làm ruộng nên kinh tế rất khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Hiện tài sản bị cáo trộm cắp của anh Lường Văn B gồm 01 chiếc xe môtô hiệu Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 27B1-269.30 và một chiếc cưa máy màu đỏ, nhãn hiệu Husevorna(365); 01 chiếc kéo cắt giấy cán bọc nhựa lưỡi bằng kim loại màu trắng. Công an đã thu giữ và đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định tại Điều 47, 48/BLHS và Điều 106/ BLTTHS. Tại phiên tòa hôm nay anh B không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm HĐXX chấp nhận.
. Về án phí: Bị cáo có hộ khẩu thường trú tại xã đặc biệt khó khăn gia đình thuộc hộ cận nghèo thuộc diện miễn án phí, bị cáo có đơn xin miễn án phí. Áp dụng Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo được miễn toàn bộ án phí HSST.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS năm 2015;
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Lò Văn H 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (20/5/2018).
3. Vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47; Khoản 1 Điều 48 /BLHS và khoản 3 Điều 106/ BLTTHS:
- Chấp nhận biên bản trao trả tài sản cho anh Lường Văn B của Công an huyện Đ vào ngày 11/6/2018.
4. Án phí:
Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Lò Văn H được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày14/8/2018).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh. - VKSND Tỉnh và VKS H Đ; - Công an H. Đ; - Phòng HSNV CA T.Điện Biên; - Sở Tư pháp T.Điện Biên; - Chi cục THADS; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu; | TM. HỘI ĐÔNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bạc Thị Liên |