vanban.org

Bản án 184/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang L, cho ông Trần Quang L được ly hôn với bà Đỗ Thị N.

Về con chung: Giao cháu Trần Đỗ Quỳnh A, sinh ngày 04/02/2012 cho ông Trần Quang L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cháu Trần Anh T, sinh ngày 22/5/2003 và cháu Trần Thành Đ, sinh ngày 11/7/2005 đã thành niên và có khả năng lao động nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Về cấp dưỡng: Bà Đỗ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TranQuangL - DoThiN"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang L, cho ông Trần Quang L được ly hôn với bà Đỗ Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3- ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 184/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 04/08/2026.
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh .

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bình.

Bà Nguyễn Ngọc Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuất – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 08 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3- Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 511/2026/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 04 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 06 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 172/2026/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 07 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Quang L, sinh năm 1973;

CCCD số: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 10/8/2021 nơi cấp Cục cảnh sát QLHC về trật tự xã hội.

Địa chỉ cư trú: Tổ H, Ấp F, xã T, thành phố Đ.

- Bị đơn: bà Đỗ Thị N, sinh năm 1984;

CCCD số: xxxxxxxxxxx cấp ngày 14/7/2024 nơi cấp Bộ Công An

Địa chỉ cư trú: Tổ H, Ấp F, xã T, thành phố Đ.

(Ông L có đơn xin vắng mặt, bà N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn ông Trần Quang L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông L và bà Đỗ Thị N tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 1999 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai (Nay là Ủy ban nhân dân xã T, Thành phố Đ), được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 111/1999 ngày 16/7/1999. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, xung đột về tình cảm quan hệ vợ chồng, về sinh hoạt gia đình, nuôi dạy con cái. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp. Ông và bà N đã ly thân hơn một năm nay. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Đỗ Thị N.

- Về con chung: Quá trình chung sống ông và bà N có 03 con chung là cháu Trần Đỗ Quỳnh A, sinh ngày 04/02/2012, cháu Trần Anh T, sinh ngày 22/5/2003, cháu Trần Thành Đ, sinh ngày 11/7/2005. Khi ly hôn ông L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trần Đỗ Quỳnh A, sinh ngày 04/02/2012. Cháu Trần Anh T, sinh ngày 22/5/2003 và cháu Trần Thành Đ, sinh ngày 11/7/2005 đã thành niên và có khả năng lao động nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về cấp dưỡng: Tạm thời bà N không phải cấp dưỡng nuôi con do ông L không yêu cầu

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra ông không yêu cầu và cung cấp tài liệu chứng cứ gì khác.

* Bị đơn bà Đỗ Thị N được Toà án triệu tập nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, do đó không có ý kiến hay chứng cứ gì giao nộp cho Tòa án.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Đồng Nai:

+ Về việc kiểm sát chấp hành pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai, có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà, không có lời khai nên bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết tranh chấp: Từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn nguyên đơn ông Trần Quang L, cho ông Trần Quang L được ly hôn với bà Đỗ Thị N; Về con chung: Giao cháu Trần Đỗ Quỳnh A, sinh ngày 04/02/2012 cho ông L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, cháu Trần Anh T, sinh ngày 22/5/2003 và cháu Trần Thành Đ, sinh ngày 11/7/2005 đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tạm thời bà N không phải cấp dưỡng nuôi con do ông L không yêu cầu; Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết; Về án phí: Ông Trần Quang L phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Ông Trần Quang L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Đỗ Thị N. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về tư cách đương sự: Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định ông Trần Quang L là nguyên đơn, bà Đỗ Thị N là bị đơn.

Về thẩm quyền giải quyết: Bà Đỗ Thị N hiện nay đang cư tạm trú tại Tổ H, Ấp F, xã T, thành phố Đ. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3- Đồng Nai.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho bà Đỗ Thị N nhưng bà N không đến Tòa làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa xét xử; ông Trần Quang L có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ và Điều 207, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với ông L, bà N cũng đảm bảo quyền lợi của đương sự.

Về yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang L, HĐXX xét thấy: Ông Trần Quang L và bà Đỗ Thị N tự nguyện kết hôn vào năm 1999 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai (Nay là Ủy ban nhân dân xã T, Thành phố Đ) được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 111/1999 ngày 16/7/1999. Đối chiếu quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000, xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống theo ông L trình bày có phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp. Ông L và bà N đã sống ly thân hơn một năm nay. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà N theo quy định nhưng bà N không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình, điều đó cho thấy bà N đã bỏ mặc hôn nhân của mình không muốn hàn gắn lại với ông L. Như vậy, mâu thuẫn giữa ông L và bà N là có thật. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng ông L vẫn cương quyết ly hôn do không còn tình cảm gì với bà N nữa. Do đó, Tòa án căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho ông Trần Quang L được ly hôn với bà Đỗ Thị N.

Về con chung: Quá trình chung sống ông và bà N có 03 con chung là cháu Trần Đỗ Quỳnh A, sinh ngày 04/02/2012, cháu Trần Anh T, sinh ngày 22/5/2003, cháu Trần Thành Đ, sinh ngày 11/7/2005. Khi ly hôn ông L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trần Đỗ Quỳnh A, sinh ngày 04/02/2012. Cháu Trần Anh T, sinh ngày 22/5/2003 và cháu Trần Thành Đ, sinh ngày 11/7/2005 đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án không làm việc được với bà N ý kiến về con chung. Mặt khác cháu Trần Đỗ Quỳnh A hiện đang ở với ông L và được ông L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, cháu cũng có nguyện vọng ở với ba là ông Trần Quang L. Do đó, để không làm xáo trộn đời sống tâm sinh lý cũng như việc ăn ở, học hành của con chung, vì vậy cần thiết giao cháu Trần Đỗ Quỳnh A, sinh ngày 04/02/2012 cho ông Trần Quang L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp. Cháu Trần Anh T, sinh ngày 22/5/2003 và cháu Trần Thành Đ, sinh ngày 11/7/2005 đã thành niên và có khả năng lao động nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về cấp dưỡng: Bà Đỗ Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con do ông L không yêu cầu.

Bà N được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

Về ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:

- Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Trần Quang L phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà Đỗ Thị N không phải nộp án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang L, cho ông Trần Quang L được ly hôn với bà Đỗ Thị N.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Đỗ Quỳnh A, sinh ngày 04/02/2012 cho ông Trần Quang L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cháu Trần Anh T, sinh ngày 22/5/2003 và cháu Trần Thành Đ, sinh ngày 11/7/2005 đã thành niên và có khả năng lao động nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về cấp dưỡng: Bà Đỗ Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con do ông L không yêu cầu.

Bà N được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí HNGĐ-ST: Ông Trần Quang L phải nộp 300.000 đồng án phí, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ông L đã nộp tại biên lai số 0008236 ngày 10/04/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (Nay là thi hành án dân sự thành phố Đ). Ông Trần Quang L đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà Đỗ Thị N không phải nộp án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Ông Trần Quang L, bà Đỗ Thị N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật này; việc thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, cưỡng chế thi hành án và thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND Thành phố Đồng Nai;

- VKSND khu vực 3- Đồng Nai;

- Thi hành Thành phố Đ;

- UBND xã T, Thành phố Đồng Nai .

- Đương sự;

- Lưu VP- HS.

Nguyễn Thị Q

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ