- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "lh"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51,56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân & Gia đình;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:184/2024/HNGĐ-ST Ngày 30 - 12 - 2024 (V/v: Tranh chấp về Hôn nhân & Gia đình) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Phan Thị Nga - bà Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: ông Đào Quang Sáng - Chức vụ: Thư ký tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa:
Không tham gia.
Ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án “Tranh chấp Hôn nhân & Gia đình” thụ lý số: 491/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:262/2024/QĐST - HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số:263/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/12/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 2005. Có mặt
Địa chỉ: Xóm 5, xã Minh Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn: Anh Ngô Công C, sinh năm 1998. Vắng mặt lần thứ hai
Địa chỉ: Xóm Giáp Ngói, xã Long Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn, tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Ngô Công C kết hôn vào ngày 18/10/2023 tại UBND xã Long Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách không phù hợp, thường xuyên cãi vã xung đột, bất đồng quan điểm dẫn đến rạn nứt tình cảm. Mâu thuẫn xảy ra đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành. Hai bên đã sống ly thân không còn còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.
- Về con C: Vợ chồng có một con C là Ngô Gia Huy, sinh ngày, sinh ngày 22/4/2023. Nếu toà giải quyết ly hôn chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản: Chị T không yêu cầu tòa án giải quyết.
+/ Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã triệu tập, tống đạt thông báo hợp lệ cho anh C đến Toà án giải quyết thông qua người thân có cùng nơi cư trú là chị Ngô Thị Thuỷ (em gái ruột anh C) và giao trách nhiệm cho chị Thuỷ giao lại các văn bản tố tụng cho anh C. Chị Thuỷ đã cam kết giao tận tay và anh C đã nhận được. Tuy nhiên tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; hòa giải cũng như tại phiên tòa anh C đều vắng mặt không có lý do nên Toà án không ghi được ý kiến của bị đơn anh C. Song qua các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn chị T cung cấp thì về quan hệ hôn nhân, con C đúng như nguyên đơn đã trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến trình bày của chị T Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân & Gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn anh C có hộ khẩu thường trú tại xã Long Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành. Tại phiên tòa nguyên đơn có mặt, bị đơn anh C vắng mặt lần thứ 2, do đó căn cứ vào Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn anh Ngô Công C.
2. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Ngô Công C kết hôn vào ngày 18/10/2023 tại UBND xã Long Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa chị T, anh C được xác lập trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ theo quy định của định pháp luật. Do đó hôn nhân giữa chị T, anh C là hôn nhân hợp pháp.
Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo chị T nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính cách không phù hợp, thường xuyên mâu thuẫn dẫn đến rạn nứt tình cảm và đã sống ly thân. Sau khi thụ lý, Toà án đã triệu tập, thông báo hợp lệ cho anh C nhưng anh C vắng mặt không có lý do, sau đó Toà án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho chị Ngô Thị Thuỷ là em gái ruột của anh C, chị Thuỷ cam kết giao tận tay cho anh C, anh C đã nhận được tuy nhiên trong quá trình giải quyết anh C vẫn vắng mặt, điều đó chứng tỏ anh C không mong muốn tìm giải pháp để hàn gắn tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng. Mặt khác biên bản xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân giữa anh C, chị T đã ly thân không thể hàn gắn được.
Xét mâu thuẫn giữa chị T, anh C đã đến mức trầm trọng, đời sống C không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân & Gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T cho chị T được ly hôn với anh C.
Về con C. Chị T, anh C có một con C Ngô Gia Huy, sinh ngày, sinh ngày 22/4/2023.
Xét chị T có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con C và không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con, Hội đồng xét xử thấy:
Chị T hiện vừa làm công nhân giày da gần nhà có thu nhập trung bình từ 6.000.000 - 7.000.000 đồng/tháng bên cạnh chị còn có cha mẹ, người thân bên ngoại hỗ trợ vật chất cũng như tinh thần nên đảm bảo điều kiện chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con C. Mặt khác từ khi vợ chồng ly thân con C ở với chị. Quá trình giải quyết vụ án anh C vắng mặt không thể hiện nguyện vọng được nuôi con, vì vậy việc giao con cho anh C sẽ không đảm bảo quyền lợi của con C. Do đó để tạo điều kiện tốt nhất cho con C của vợ chồng, áp dụng Điều 81 Luật Hôn nhân & Gia đình cần tiếp tục giao con C là cháu Ngô Gia Huy cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành.
Chị T không yêu cầu anh C thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con C, do đó Hội đồng xét xử miễn xét.
Về tài sản: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu nên miễn xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51,56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân & Gia đình;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Ngô Công C.
- Về con C: Tiếp tục giao 01 con C Ngô Gia Huy, sinh ngày 22/4/2023 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành.
* Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Đương sự chưa yêu cầu.
Anh Ngô Công C có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con C không ai được quyền cản trở.
Vì lợi ích của con theo yêu cầu của cha mẹ hoặc tổ chức cá nhân theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân & Gia đình Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con.
[2] Án phí: Căn cứ vào khoản 4, điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điều 27 Nghị quyết 326 /2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003170 ngày 24/10/2024, chị T đã nộp đủ án phí.
Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận - VKS H.Yên Thành - Các đương sự - THA DS H.Yên Thành - TAND tỉnh - UBND xã (ĐKKH) - Lưu hs, VP | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Nhung |