- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Ng phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sử…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Nguyễn Thị Ng 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 184/2023/HSST Ngày 11/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Th Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vĩ;
Ông Nguyễn Văn Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Ngc Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mai Xiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 155/2023/TLST
- HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 08 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1964 tại Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn XD, xã KL, huyên Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: Lớp 06/10; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quý S(chết) và bà Nguyễn Thị L(chết); chồng: Nguyễn Hữu M; con: 03 con (con lớn nhất sinh 1987, con nhỏ nhất sinh năm 1993); tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1955;
Nơi cư trú: Thôn XD, xã KL, huyên Sóc Sơn, thành phố Hà Nội;
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Ng: Bà Nguyễn Thị Kim Dung - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 23/02/2023, bà Nguyễn Thị Y nhìn thấy chó của nhà Nguyễn Thị Ng đang đi vệ sinh trước cổng nhà, bà Y cầm chổi tre đuổi chó thì Ng từ trong nhà đi ra chửi bà Y, hai bên lời qua tiếng lại. Sau đó Ng tay phải cầm cán chổi tre ra vụt về phía bà Y trúng bàn tay phải làm gãy ngón II, gãy đầu xương bàn ngón II, gãy ngón IV bàn tay phải của bà Y. Bà Y bị đánh đã chạy vào nhà lấy chổi tre chạy ra, tay trái bà Y cầm lấy cán chổi tre khua về phía Ng nhưng không trúng. Ng cầm cán chổi tre vụt 02 phát trúng đùi bên trái bà Y. Nghe thấy tiếng cãi chửi nhau, chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1990 (là con dâu bà Y) đi ra can ngăn, ông Nguyễn Hữu M, sinh năm 1963 (chồng bà Ng) chạy ra can ngăn, sự việc kết thúc. Sau khi sự việc xảy ra, bà Y được gia đình đưa đến Bệnh viên đa khoa Sóc Sơn điều trị. Nguyễn Thị Ng xác định bị thương tích nhẹ nên từ chối giám định thương tích và không yêu cầu đề nghị gì.
* Tại Kết luận giám định số: 318/KLTTCT-TTPY ngày 21/5/2023 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế Hà Nội kết luận thương tích của bà Nguyễn Thị Y tại thời điểm giám định như sau:
- Vết thương ngón IV bàn tay phải: 02%;
- Gãy đốt 1 ngón II bàn tay phải 02%;
- Gãy chỏm đốt IV bàn tay phải 01%;
- Gãy xương bàn II bàn tay phải 06%;
- Chạm thương phần mềm đùi trái không tổn thương xương, không ảnh hưởng chức năng, không để lại sẹo: Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 không có chương mục quy định tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với tổn thương này.
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị Y tại thời điểm giám định trong vụ việc ngày 23/02/2023 là: 11% (Mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.
- Cơ chế hình thành thương tích: các tổn thương của bà Nguyễn Thị Y do vật tày, vật tày có cạnh gây ra.
- Do bà Nguyễn Thị Y chưa tháo nẹp bột cẳng - cổ- bàn tay phải nên chưa đánh giá được hết các tổn thương và mức độ di chứng biến chứng, đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định và tháo bỏ nẹp bột.
Bản cáo trạng số 139/CT-VKS ngày 25/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Nguyễn Thị Ng về tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa, bị cáo khai: Sáng ngày 23/02/2023, chó nhà bị cáo chạy ra cổng thì bị bà Y đuổi đánh, bị cáo nói bà Y, hai bên lời qua tiếng lại, bà Y dùng chổi vụt vào vai bị cáo trước nên bị cáo tức quá chạy vào trong nhà lấy chổi tre vụt 01 phát vào bàn tay phải bà Y. Sau đó, chồng bị cáo và con dâu bà Y là chị Th ra can ngăn, sự việc kết thúc. Bị cáo cũng bị bà Y vụt phải đi điều trị tại Bệnh việc đa khoa Sóc Sơn từ ngày 25/02/2023 đến ngày 03/3/2023 thì ra viện nhưng bị cáo nghĩ hai bên là hàng xóm, còn sống với nhau lâu dài nên bị cáo từ chối giám định và cũng không yêu cầu bà Y bồi thường. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, bị cáo cũng đã xin lỗi và bồi thường cho bà Y nhưng bà Y từ chối nhận nên bị cáo đã nộp 15.000.000 đồng vào Cơ quan thi hành án để bồi thường cho bà Y, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Người bị hại là bà Nguyễn Thị Y trình bày: Nhà bà và nhà bị cáo liền kề nhau và có mâu thuẫn từ trước đó. Khoảng 6 giờ ngày 23/02/2023, bà đi mua thức ăn về thì thấy con chó nhà bị cáo chạy sang, bà sợ chó ỉa bậy bẩn cổng nên cầm chổi tre đuổi chó đi. Lúc đó Ng ở trong nhà chửi vọng ra, hai bên lời qua tiếng lại, rồi Ng cầm chổi tre từ trong nhà lao về phía bà vụt từ trên xuống trúng tay phải bà, bà đau quá nên chạy vào cổng nhà cầm gậy tre khua về phía Ng để Ng không đánh trúng bà nhưng Ng vẫn tiếp tục vụt 02 cái vào đùi bên trái của bà. Sau đó con dâu bà là Th và ông M ra can ngăn thì sự việc kết thúc. Do bị đau tay nên bà đã đi điều trị tại Bệnh việc đa khoa Sóc Sơn từ ngày 25/02/2023 đến ngày 02/3/2023 nhưng gia đình bị cáo không thăm hỏi, bồi thường gì. Nay bà yêu cầu bị cáo bồi thường cho bà số tiền 49.343.445 đồng gồm các khoản sau:
- Tiền khám, chữa bệnh theo hóa đơn: 3.268.253 đồng;
- Tiền thuê xe taxi đi giám định: 800.000 đồng;
- Tiền ăn của bà và người chăm sóc trong 7 ngày x 30.000 đồng: 1.260.000 đồng;
- Tiền nẹp tay định hình dịch vụ: 400.000 đồng;
- Tiền hơ tay làm ráo vết thương: 400.000 đồng;
- Tiền điều trị vật lý trị liệu, 05 lần đi thay băng (từ ngày 20/3/2023 - 04/4/2023) x 200.000 đồng = 1.400.000 đồng;
- Tiền mất ngày công lao động 40 ngày x 200.000 đồng/ngày = 8.000.000 đồng;
- Tiền mất ngày công lao động của người chăm sóc 7 ngày x 350.000 đồng/ngày = 2.450.000 đồng.
- Tiền xe taxi từ bệnh viện về nhà: 200.000 đồng;
- Bồi thường tổn thất tinh thần: 30.000.000 đồng;
Tổng 49.343.000 đồng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn luận tội:
Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s, p khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Thị Ng mức án từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng, kể từ ngày tuyên án.
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị Y số tiền 20.200.000 đồng. Xác nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bà Y số tiền 15.000.000 đồng theo biên lai thu của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bà Y số tiền còn thiếu là 5.200.000 đồng.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo, bà Nguyễn Thị Kim Dung trình bày: Về tội danh, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, b, p khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự như: Bị cáo phạm tội lần đầu, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo là người khuyết tật, bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả, bị cáo phạm tội do nhận thức pháp luật hạn chế. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo mức án nhẹ nhất và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời xem xét quyết định mức bồi thường dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Do có mâu thuẫn từ trước nên khoảng 6 giờ ngày 23/02/2023, tại thôn XD, xã KL, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thị Ng nhìn thấy bà Nguyễn Thị Y cầm chổi đuổi chó nhà mình đã có lời lẽ chửi bới bà Y, hai bên lời qua tiếng lại, Ng tay phải cầm cán chổi tre vụt trúng bàn tay phải và đùi bên trái của bà Y. Hậu quả bà Y bị gãy đốt 1 ngón II, gãy chỏm đốt VI, gãy xương bàn II của bàn tay phải và chạm thương phần mềm đùi trái, tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là: 11%. Hành vi của Nguyễn Thị Ng đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như nêu trên là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên cũng cần xem xét đến tính chất hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người khuyết tật, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, p khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội do nhận thức phạm luật hạn chế. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cho bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật, được cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Xét yêu cầu bồi thường của bà Nguyễn Thị Y, Hội đồng xét xử thấy:
Quá trình điều tra, bà Y xuất trình các biên lai, phiếu thu gồm:
+ Hóa đơn giám định sức khỏe của Trung tâm Pháp Y Hà Nội (BL 129): 1.335.000 đồng;
+ Tiền bồi dưỡng giám định sức khỏe của Trung tâm Pháp Y Hà Nội (BL 130): 680.000 đồng;
+ Phiếu thu tiền viện phí của Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn (BL 131): 1.516.879 đồng;
+ Phiếu thu tiền viện phí Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn (BL 132): 57.600 đồng;
+ Phiếu thu tiền XQ Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn (BL 134): 97.200 đồng;
+ Phiếu thu tiền viện phí của Bệnh viện Bắc Thăng Long (BL 135): 414.488 đồng;
+ Hóa đơn thuốc của Bệnh viện Bắc Thăng Long (BL 136): 532.278 đồng;
Tổng là 4.633.445 đồng.
Xét toàn bộ các chi phí nêu trên có biên lai, phiếu thu là chi phí thực tế bà Y đã bỏ ra để điều trị cũng như giám định thương tích nên được chấp nhận.
- Đối với các khoản: Tiền thuê xe taxi từ Bệnh viện Sóc Sơn về nhà là 200.000 đồng; tiền thuê xe taxi đi giám định là 800.000 đồng; tiền nẹp tay định hình dịch vụ: 400.000 đồng; tiền hơ tay làm ráo vết thương: 400.000 đồng và tiền điều trị vật lý trị liệu và 05 lần đi thay băng (từ ngày 20/3/2023 - 04/4/2023) là 1.400.000 đồng, tổng 3.200.000 đồng, mặc dù bà Y không xuất trình được hóa đơn, phiếu thu nhưng đây là chi phí hợp lý để giám định và điều trị vết thương nên chấp nhận.
- Về yêu cầu thanh toán chi phí ăn uống tại Bệnh viện trong 07 ngày nằm viện: Sau khi bị thương, bà Y phải đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn từ ngày 23/02/2023 đến ngày 02/3/2023 nên chấp nhận chi phí tiền ăn của bà Y trong thời gian nằm điều trị tại bệnh viện với số tiền là 07 ngày x 3 bữa/ngày x 30.000 đồng/bữa = 630.000 đồng.
- Về yêu cầu bồi thường mất thu nhập là 8.000.000 đồng: Lời khai của bà Y thể hiện, bình thường bà chỉ ở nhà nếu cơm nước cho con cháu, nhưng thỉnh thoảng khi có người thuê, bà đi đánh giấy giáp đồ gỗ được 200.000 đồng/ngày, bà không làm cố định chỗ nào. Tuy nhiên, bà Y không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh lời khai nêu trên, đồng thời theo quy định của Bộ luật lao động thì bà Y hiện đã hết tuổi lao động nên không chấp nhận yêu cầu này của bà Y.
- Đối với yêu cầu bồi thường do mất thu nhập của người chăm sóc:
Tại điểm c khoản 1 Điều 590 Bộ luật dân sự quy định: “Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại”.
Quá trình điều tra, bà Y yêu cầu bị cáo bồi thường khoản tiền mất thu nhập của người chăm sóc là anh Trịnh Văn Sỹ trong 7 ngày x 350.000 đồng/ngày là 2.450.000 đồng nhưng bà Y không xuất trình được tài liệu chứng minh việc anh Trịnh Văn Sỹ bị mất thu nhập do phải chăm sóc bà Y trong thời gian điều trị tại bệnh viện. Tuy nhiên, bà Y tuổi đã cao, vết thương ban đầu xưng tấy không thể tự chăm sóc cho bản thân, cần người chăm sóc nên chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của bà Y buộc bị cáo phải thanh toán khoản tiền mất thu nhập của người chăm sóc trong thời gian bà Y nằm viện với mức thu nhập mà anh Sỹ trình bày tại phiên tòa là 100.000 đồng/ngày x 7 ngày là 700.000 đồng.
- Đối với chi phí tiền ăn cho người chăm sóc là 630.000 đồng: Như đã nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của bà Y, buộc bị cáo phải thanh toán khoản tiền mất thu nhập của người chăm sóc trong thời gian bà Y điều trị tại Bệnh viện, trong đó đã bao gồm tiền ăn, chi phí sinh hoạt của người chăm sóc nên không chấp nhận yêu cầu này của bà Y.
- Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần: 30.000.000 đồng:
Khoản 2 Điều 590 Bộ luật dân sự quy định: “Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”.
Xét thấy việc bị cáo gây thương tích cho bà Y với tỉ lệ tổn hại sức khỏe 11% trong khi bà Y cao tuổi, làm ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe của bà Y nên chấp nhận một phần yêu cầu của bà Y với mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần là 5 tháng lương cơ sở là 1.800.000 đồng x 5 = 9.000.000 đồng.
Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bà Y là 18.163.445 đồng.
Xác nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bà Y số tiền 15.000.000 đồng theo biên lai thu số: AA/2020/0005193 ngày 11/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bà Y số tiền 3.163.445 đồng.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn chuyển theo hồ sơ 01 cán chổi bằng tre dài 1m và 01 đoạn cán chổi bằng tre dài 9cm là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, giá trị sử dụng không đáng kể nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo là người khuyết tật nên được miễn nộp án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, p, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:
Xử phạt Nguyễn Thị Ng 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Ng cho Ủy ban nhân dân xã KL, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự:
Buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị Y 18.163.445 đồng. Xác nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bà Y 15.000.000 đồng theo biên lai thu số: AA/2020/0005193 ngày 11/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bà Y 3.163.445 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án bên phải thi hành án còn phải chịu một khoản tiền lãi theo quy định của Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 cán chổi bằng tre và 01 đoạn cán chổi bằng tre (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/8/2023 giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).
Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. /.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND. huyện Sóc Sơn; - Chi cục THADS huyện Sóc Sơn; - Công an huyện Sóc Sơn; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Th Hồng |