vanban.org

Bản án 184/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 10/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự Tuyên bố bị Quàng Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Quàng Văn T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (04/5/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự Tuyên bố bị Quàng Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 184/2023/HS-ST
Ngày: 10/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Văn Tám

2. Ông Cà Văn Danh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phùng Cẩm Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 188/2023/TL-HSST ngày 26 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2023/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Quàng Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1960 tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá (học vấn): 7/10; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quàng Văn P (Đã chết) và con bà: Quàng Thị Á (Đã chết); Vợ: Tòng Thị H; Con: Có 05 con: Con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 1989; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/11/2018 T bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 08/12/2019 chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/5/2023, sau đó bị tạm giam cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 04/5/2023, Quàng Văn T đi bộ từ nhà ở bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đến khu vực cánh đồng thuộc Bản P, xã N, huyện Đ. Tại đây, T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng, mục đích để bản thân sử dụng và bán kiếm lời. Mua xong, T mang về nhà dùng tay chia thành 14 gói Heroine rồi cho vào chiếc lọ nhựa để trên mặt đệm giường ngủ. Một lúc sau, có một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) đến nhà T hỏi mua 100.000 đồng Heroine, T đồng ý nhận tiền, rồi lấy 02 gói Heroine trong lọ nhựa đưa cho người đàn ông. Hồi 13 giờ 45 phút cùng ngày, khi T đang ngồi cạnh giường ngủ nhà mình thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện Điện Biên phối hợp với tổ 5, kế hoạch 1266 Công an tỉnh Điện Biên và Công an xã Noong Hẹt, huyện Điện Biên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại tay phải T đang cầm 01 lọ nhựa màu trắng, có nắp đậy màu trắng, bên trong có 11 gói giấy bạc màu vàng và 01 gói giấy màu đỏ chứa 0,72 gam Heroine; 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 04/5/2023 đã xác định: Khối lượng toàn bộ số cục màu trắng nghi Heroine có tổng khối lượng là 0,72 gam, gửi toàn bộ giám định.

Tại Bản kết luận giám định số: 746/KL-KTHS ngày 08/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) có mã hiệu NM 20782862 là tiền thật.

Tại Bản kết luận giám định số: 732/KL-KTHS ngày 10/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Quàng Văn T gồm: 0,72 gam; Mẫu các cục, bột màu trắng thu giữ của T gửi giám định là chất ma túy loại Heroine; Hoàn lại đối tượng giám định 0,51 gam;

Tại biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 18/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên: Hoàn lại mẫu sau khi giám định là: 0,51 gam.

Tại biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 12/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên: Hoàn lại mẫu sau khi giám định là: 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) có mã hiệu NM 20782862.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định trên của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.

Về vật chứng của vụ án: Ngày 25/7/2023 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên đã chuyển vật chứng của vụ án sang cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên gồm: 0,51 gam Heroine; 01 lọ nhựa màu trắng, có nắp đậy màu trắng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng);

Bản cáo trạng số: 134/CT-VKSHĐB ngày 25/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Quàng Văn T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Quàng Văn T với mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,51 gam Heroine còn lại sau khi giám định và 01 chiếc lọ nhựa màu trắng, có nắp đậy màu trắng là vật chứng của vụ án. Hoàn trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng (tiền không chứng minh được là do bị cáo phạm tội mà có).

* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và bản luận tội của Kiểm sát viên; Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa Quàng Văn T hoàn toàn thừa nhận vào hồi 13 giờ 45 phút ngày 04/5/2023, tại nhà của mình ở bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Quàng Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,72 gam Heroine, mục đích để bản thân sử dụng và bán kiếm lời. Trước khi bị bắt, T có hành vi bán trái phép 02 gói Heroine cho một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ), thu được số tiền 100.000 đồng. Số ma túy trên là do T mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) tại khu vực cánh đồng thuộc Bản P, xã N, huyện Đ với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bản luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Quàng Văn T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Quàng Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét hành vi trên của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Vì vậy, việc truy tố, xét xử và áp dụng mức hình phạt thỏa đáng đối với bị cáo là cần thiết có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa các loại tội phạm về ma túy nói chung.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Quàng Văn T không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu bởi trước đó bị cáo đã từng có 01 tiền án nhưng đã được xóa án tích, cụ thể: Tại Bản án số: 285/2018/HSST ngày 28/11/2018 T bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 08/12/2019 T chấp hành xong hình phạt tù và trở về địa phương sinh sống. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sử dụng ma túy từ năm 2017 cho đến nay, vì muốn có ma túy để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời nên bị cáo đã bất chấp pháp luật dấn thân vào con đường phạm tội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, mặt khác bố đẻ của bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, để thể hiện sự khoan hồng của Đảng, Pháp luật của Nhà nước ta đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để bị cáo từ bỏ được ma túy sớm trở lại hòa nhập với gia đình và cộng đồng.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” , do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy từ nhiều năm nay, thu nhập từ nghề làm ruộng thấp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.

[4] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Điện Biên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[5] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử cần: Tịch thu tiêu 0,51 gam Heroine còn lại sau khi giám định và 01 lọ nhựa màu trắng, có nắp đậy màu trắng không có giá trị là vật chứng của vụ án. Hoàn trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng (tiền không chứng minh được là do bị cáo phạm tội mà có).

[6] Về các vấn đề khác: Quàng Văn T khai nguồn gốc số ma túy trên là do bị cáo mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, (không biết tên, địa chỉ) tại khu vực cánh đồng thuộc Bản P, xã N, huyện Đ nên cơ quan điều tra không có đủ cơ sở đề điều tra làm rõ.

Bị cáo khai đã bán 02 gói Heroine cho một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ). Việc mua bán ma tuý chỉ có một mình bị cáo biết, do vậy không đủ căn cứ kết luận bị cáo đã bán 02 gói Heroine. Vì vậy, Hội đồng xét xử không cần tuyên trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng không chứng minh được là do bị cáo phạm tội mà có.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm nhưng do cá nhân bị cáo là người cao tuổi và tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Vì vậy, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự Tuyên bố bị Quàng Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Quàng Văn T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (04/5/2023).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu 0,51 gam Heroine còn lại sau khi giám định và 01 lọ nhựa màu trắng, có nắp đậy màu trắng không có giá trị là vật chứng của vụ án.

+ Hoàn trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), tiền không chứng minh được là do bị cáo phạm tội mà có.

Vật chứng đã được Công an huyện Điện Biên bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/7/2023 giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn T.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo Quàng Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/8/2023).

Cỡ chữ