- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tăng Hồng Khánh phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tăng Hồng Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 184/2022/HS-ST Ngày 11/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Hậu
2. Ông Trịnh Văn Đăng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên toà: Ông Lê Nguyễn Trường Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2022, tại Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự thụ lý số: 165/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2022/QĐST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo:
Tăng Hồng Kh (tên gọi khác: Cu), sinh năm 1990; tại: Bà Rịa –Vũng tàu; Trú tại: Tổ 10, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tăng H và bà Trần Thị H ; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt hành chính số: 181/QĐ- XPHC ngày 14/7/2022 của UBND xã Châu Pha đã phạt Kh số tiền 2.000.000đ do có hành về hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/7/2022 đến nay ( Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C an tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu – Có mặt).
+ Bị hại: Ông Lê Văn C sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu (vắng mặt).
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn H, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu ( vắng mặt).
- Ông Đỗ Trung H, sinh năm 1981; Hộ khẩu thường trú: Thôn D, ấp T, huyện N, tỉnh Nam Định; tạm trú tại: Tổ 11, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian ngày 16/7/2022 và ngày 25/7/2022, để có tiền tiêu xài Tăng Hồng Kh đã có 02 lần trộm cắp tài sản, cụ thể:
Lần 1: Chiều ngày 16/7/2022 Kh mượn xe máy biển số 72E1-762.16 của Lê Văn Huấn đi đến khu vực rẫy của ông Lê Văn C thuộc thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu thì phát hiện hàng rào lưới B40 bị đổ, bên trong rẫy không có ai trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm. Kh lấy kìm đã chuẩn bị từ trước ra cắt một đoạn hàng rào lưới B40 khoảng 20m rồi cuộn tròn lại bỏ lên xe. Kh chở đến tiệm thu mua phế liệu của ông Đỗ Trung H tại tổ 11, thôn T, xã C bán cho ông H được 329.000đ, số tiền này Kh đã tiêu xài hết.
Lần 2: Vào khoảng 13 giờ ngày 25/7/2022, Kh tiếp tục điều khiển xe máy 72T2-2759 của mình đi đến rẫy của ông Lê Văn C tại thôn Tân Lễ B, xã Châu Pha quan sát không thấy người trông coi, Kh lấy kìm ra cắt hàng rào lưới B40 rồi cuộn tròn thành 02 bó nhưng nặng quá không đưa lên xe được. Kh chạy xe về nhờ bạn là Lê Văn H đến giúp thì H đồng ý. Khi đến nơi Huấn biết lưới B40 là do trộm cắp nhưng Huấn vẫn đồng ý giúp Kh đưa lên xe và cả hai chở 02 bó lưới B40 đến tiệm thu mua phế liệu của ông Đỗ Trung H tại thôn Tân Lễ B bán cho ông H được 371.000đ, Kh mua cho Huấn cái thẻ Card 20.000đ và 01 chai nước ngọt, số tiền còn lại Kh đã tiêu xài hết. Tại cơ quan C an Kh và H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Tại bản kết luận định giá số 75/KL ngàyg 17/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã Phú Mỹ kết luận: 20 mét lưới B40, loại 3,5m, sắt mạ kẽm, cao 1,6m tính đến ngày 16/7/2022 trị giá 495.000đ ( Bốn trăm chín mươi lăm ngàn đồng); 20 mét lưới B40, loại 3,5m, sắt mạ kẽm, cao 1,6m tính đến ngày 25/7/2022 trị giá 495.000đ ( Bốn trăm chín mươi lăm ngàn đồng). Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 990.000đ ( Chín trăm chín mươi ngàn đồng).
Bản Cáo trạng số: 148/CT-VKS ngày 20 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu đã truy tố Tăng Hồng Kh về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố theo như bản cáo trạng và phát biểu luận tội, phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra; đặc điểm nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Tăng Hồng Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 173, Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Kh từ 12 đến 18 tháng tù.
+ Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe máy biển số 72T2-2759; tịch thu tiêu hủy 01 kim sắt màu đỏ dài 16cm, mũi kìm rộng 2cm, kìm đã rỉ sét không còn giá trị sử dụng.
+ Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Văn C đã nhận được lưới B40 và không yêu cầu bồi thường gì. Ông Đỗ Trung H đã trả lại lưới B40, số tiền mà giao cho bị cáo ông Hào không yêu cầu bị cáo trả lại.
+ Đối với Lê Văn H là đồng phạm với Kh , tuy nhiên trị giá 02 bó lưới B40 dưới mức 2.000.000đ, bản thân H chưa có tiền án, tiền sự nên không đủ yếu tố cấu thành “Trộm cắp tài sản”. Hành vi của H đã bị Cng an thị xã Phú Mỹ đã ra quyết định sử phạt hành chính số: 32/QĐ ngày 28/9/2022 phạt tiền 2.500.000đ đối với H.
+ Đối với ông Đỗ Trung H, khi mua lưới B40 của Kh không biết là tài sản trộm cắp nên không có căn cứ để xử lý ông H về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
+ Tại phiên tòa bị cáo Tăng Hồng Kh thừa nhận hành vi phạm tội và không tranh luận gì chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C an thị xã Phú Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi của bị cáo: Bị cáo Tăng Hồng Kh là đối tượng nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài Kh đã nhiều lần trộm cắp tài sản, cụ thể:
Lần 1: Chiều ngày 16/7/2022, Kh điều khiển xe máy biển số 72E1-762.16 (xe mượn của Lê Văn Huấn) đến khu vực rẫy của ông Lê Văn C thuộc thôn Tân Lễ B, xã Châu Pha, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu, lợi dụng không có người trông coi, Kh đã lén lút lấy kìm đã chuẩn bị từ trước ra cắt một đoạn hàng rào lưới B40 dài 20m trị giá 495.000đ.
Lần 2: Khoảng 13 giờ ngày 25/7/2022 Kh tiếp tục điều khiển xe máy 72T2-2759 của mình đến rẫy của ông Lê Văn C tại thôn Tân Lễ B, lợi dụng không có người trông coi, Kh lấy kìm ra cắt hàng rào lưới B40 dài 20m trị giá 495.000đ.
Tổng giá trị tài sản mà Tăng Hồng Kh chiếm đoạt của ông Lê Văn C là 990.000 đ.
Trước đó, Tăng Hồng Kh có 01 tiền sự theo Quyết định xử phạt hành chính số 181/QĐ- XPHC ngày 14/7/2022 của UBND xã Châu Pha đã xử phạt tiền 2.000.000đ đối với Kh vì có “Trộm cắp tài sản”. Mặc dù các lần phạm tội và tổng giá trị tài sản Kh chiếm đoạt chưa đến mức phải truy cưu trách nhiệm hình sự nhưng Kh đã có 01 tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản. Do vậy, các lần phạm tội này của Kh đều đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo Tăng Hồng Kh là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật, bản thân đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng không biết tu dưỡng bản thân, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần xử lý thật nghiêm tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra. Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành C dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần, mỗi lần đều cấu thành tội phạm nên thuộc tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; phạm tội gây thiệt hại không lớn, đây là những tính tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
01 chiếc xe máy biển số 72T2-2759, người đứng tên là ông Nguyễn Nho H, ông H thừa nhận đã bán xe. Mặc dù chưa sang tên nhưng chiếc xe này là của bị cáo mua lại sử dụng làm phương tiên phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 kim sắt màu đỏ dài 16cm, mũi kìm rộng 2cm là của bị cáo làm C cụ phạm tội, hiện nay kìm đã rỉ sét, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[ 6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lê Văn C đã nhận lại lưới B40 và không yêu cầu bồi thường gì nên xem như đã giải quyết xong. Số tiền mà ông Hào giao cho bị cáo, bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết nên không có tiền trả, ông Hào không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 700.000đ, xem như đã giải quyết xong.
Đối với Lê Văn H là đồng phạm với bị cáo Kh, tuy nhiên trị giá tài sản trộm cắp là 495.000đ (Bốn trăm chín lăm ngàn đồng), dưới mức 2.000.000đ, bản thân H không có tiền án, tiền sự nên không đủ yếu tố cấu thành “Trộm cắp tài sản”. Do vậy, Công an thị xã Phú Mỹ đã ra Quyết định xử phạt hành chính số: 32/QĐ ngày 28/9/2022 phạt tiền 2.500.000đ đối với H là có căn cứ.
Đối với ông Đỗ Trung H, khi mua lưới B40 của Kh không biết là tài sản trộm cắp nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự về hành vi này.
Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ truy tố bị cáo Tăng Hồng Kh phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo như bản cáo trạng là có căn cứ.
[10] Về án phí: Bị cáo Tăng Hồng Kh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
+ Tuyên bố bị cáo Tăng Hồng Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”
+ Xử phạt bị cáo Tăng Hồng Kh 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 27/7/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Nouvo LX, loại xe nữ, biển số: 72T2-2759, số máy 5P11-063487, số khung RLCN5P1109Y063490, không đèn, không mặt nạ, không bửng, không ốp nhựa, chỉ còn khung sườn, xe đã hư hỏng và không hoạt động được.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 kìm cắt sắt màu đỏ, dài 16cm, mũi kìm rộng 2cm, kìm rỉ sét.
Đặc điểm vật chứng nêu trên được thể hiện theo biên bản giao nhận vật chứng số: 19/BB-CCTHADS ngày 20/10/2022 giữa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Tăng Hồng Kh phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/11/2022). Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Sở tư pháp tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; - VKSND TX. Phú Mỹ; - CCTHADS TX. Phú Mỹ; - C an TX. Phú Mỹ ( 02 bản); - Phòng PV06- C an tỉnh BR-VT - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Văn Cường |