- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chị Huỳnh Thị Yến K và anh Trương Quốc T được ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 184/2022/HNGĐ - ST Ngày: 30/12/2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Văn Phục
2. Ông Phan Công Điện
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
Ngày 30 tháng 12 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 616/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Yến K, sinh năm: 2000; Địa chỉ: khu vực Láng S, phường H, thành phố N, tỉnh H (có mặt)
Bị đơn: Anh Trương Quốc T, sinh năm: 1992; Địa chỉ: ấp Thạnh L, xã Tân L, huyện P, tỉnh H (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 16/10/2022, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Huỳnh Thị Yến K trình bày:
Chị K và anh Trương Quốc T làm lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2018, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, từ đó dẫn đến mất hạnh phúc gia đình, vợ chồng cũng đã chính thức ly thân từ tháng 8/2022, đến nay không hàn gắn đoàn tụ được.
Về con chung: có 01 con chung là Trương Huỳnh Ái M, sinh ngày: 18/9/2020, hiện tại do chị K trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản chung; Về nợ chung: Không yêu cầu.
Nay chị Huỳnh Thị Yến K yêu cầu được ly hôn với anh Trương Quốc T; Về con chung: chị K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng Trương Huỳnh Ái M, sinh ngày: 18/9/2020; không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trương Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt không đến Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: anh Trương Quốc T đã được Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: chị Huỳnh Thị Yến K và anh Trương Quốc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2019 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống hạnh phúc đến 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không tin yêu nhau, không tôn trọng nhau, không thật sự quan tâm chăm sóc cho nhau, từ đó dẫn đến mất hạnh phúc và chính thức ly thân, trong suốt quá trình ly thân vợ chồng cũng không hàn gắn đoàn tụ được. Quá trình giải quyết vụ án anh T biết chị K xin ly hôn nhưng vẫn không đến Tòa án giải quyết. Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K là phù hợp.
Về con chung: các đương sự không có tranh chấp về việc nuôi con. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận để chị K được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Huỳnh Ái M, sinh ngày: 18/9/2020; anh T chưa phải cấp dưỡng nuôi con, do chị K không yêu cầu. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh T, không ai được cản trở.
Về tài sản chung; Về nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Các Điều 35, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: chị Huỳnh Thị Yến K và anh Trương Quốc T được ly hôn.
Về con chung: chị Huỳnh Thị Yến K được quyền trực tiếp nuôi dưỡng Trương Huỳnh Ái M, sinh ngày: 18/9/2020; anh Trương Quốc T chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh T, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị Huỳnh Thị Yến K và anh Trương Quốc T có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Huỳnh Thị Yến K phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000526 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Chị K đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án
Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND h. Phụng Hiệp; - THA h. Phụng Hiệp; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Phạm Tiến Dũng |