- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NH TM CP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần XNKVN:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 184/2022/ DS-ST Ngày: 13/5/2022 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Giàu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đặng Thu Vân
2. Ông Lê Văn Thành Trúc
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số 05/2021/TLST- DS ngày 05 tháng 01 năm 2021, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2022/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 65/2022/QĐST-DS ngày 14/4/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần XNKVN.
Địa chỉ: tầng 8 Tòa nhà Vincom Center, số 72 đường LTT, Phường BN, Quận U, Tp. Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Văn Đ – Giấy ủy quyền số 925/2020/EIB.PMH/UQ-GD ngày 10/12/2020.
Bị đơn: Thạch Thị Sô K, sinh năm 1982.
Địa chỉ: 296A/3 HP, Phường U, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và đại diện nguyên đơn trình bày: Ngân hàng Thương mại cổ phần XNKVN (gọi tắt là Ngân hàng XNKVN) và bà Sô K có ký Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế VPCB 07/2020 ngày 15/4/2020, hạn mức thẻ là 60.000.000 đồng, thời hạn sử dụng thẻ là 36 tháng, hình thức bảo đảm là tín chấp. Bà Sô K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và ngân hàng nhiều lần mời bà Sô K đến để làm việc nhưng khách hàng đều không đến.
Tính đến ngày 18/3/2022, bà Sô K còn nợ số tiền: 122.536.829 đồng, trong đó tiền gốc: 54.619.450 đồng, tiền lãi: 30.578.700 đồng, phí trễ hạn 32.234.163 đồng, phí vượt hạn mức: 3.904.516 đồng và phí khác: 1.200.000 đồng.
Nay Ngân hàng XNKVN yêu cầu bà Sô K thanh toán số tiền tính đến 18/3/2022 là 122.536.829 đồng và tiền lãi, phí phát sinh tính từ ngày 19/3/2022 cho đến ngày bị đơn trả xong nợ ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa nên Tòa án không thu được lời Ki và không tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân Quận 8 thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật. Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ pháp luật không vi phạm tố tụng. Yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần XNKVN là có căn cứ theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định :
Xét đơn khởi kiện của Ngân hàng XNKVN thì đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn cư trú tại Quận 8 nên theo qui định của các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành giải quyết vụ án theo quy định tại điểm e, khoản 1, Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 do bà Thạch Thị Sô K thay đổi địa chỉ nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện.
Bà Sô K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của nguyên đơn.
Ngân hàng XNKVN và bà Thạch Thị Sô K có thỏa thuận về Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế VPCB 07/2020 ngày 15/4/2020, hạn mức thẻ là 60.000.000 đồng, thời hạn sử dụng thẻ là 36 tháng. Bà Sô K có trách nhiệm trả số tiền vay và lãi từng kỳ theo thỏa thuận của hợp đồng. Đây là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và có lãi. Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì tổ chức tín dụng và bên vay có quyền thỏa thuận về lãi suất vay nên hợp đồng vay giữa Ngân hàng XNKVN và bà Thạch Thị Sô K đúng qui định của pháp luật. Nghĩa vụ của bên vay phải trả đủ tiền khi đến hạn nhưng bà Sô K không thanh toán. Tính đến ngày 18/3/2022, bà Sô K còn nợ Ngân hàng XNKVN số tiền 122.536.829 đồng. Bà Thạch Thị Sô K đã nhận được thông báo thụ lý vụ án nhưng không có ý kiến phản hồi chứng tỏ có việc vay nợ giữa bà và Ngân hàng XNKVN. Bà Sô K đã được triệu tập đúng qui định nhưng cố ý vắng mặt khi Tòa án triệu tập xem như bà Sô K đã tự mình từ chối thực hiện các quyền lợi hợp pháp, bà Sô K phải gánh chịu mọi hậu quả pháp lý do việc vắng mặt của mình. Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc Ngân hàng XNKVN yêu cầu bà Sô K phải trả toàn bộ số tiền còn nợ cùng với tiền lãi, phí theo hợp đồng là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại án lệ số 08/2016/AL qui định: “Đối với các khoản tiền vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”. Như vậy, bà Thạch Thị Sô K phải tiếp tục trả tiền lãi tính kể từ ngày 19/3/2022 cho Ngân hàng XNKVN trên số nợ gốc theo lãi suất nợ quá hạn tại hợp đồng tín dụng.
Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Nguyên đơn không phải chịu án phí và được hoàn lại tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL công bố ngày 17/10/2016;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần XNKVN:
1.1. Buộc bà Thạch Thị Sô K phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần XNKVN số tiền tính đến ngày 18/3/2022 là: 122.536.829 (một trăm hai mươi hai triệu năm trăm ba mươi sáu nghìn tám trăm hai mươi chín) đồng, trong đó tiền gốc: 54.619.450 đồng, tiền lãi: 30.578.700 đồng, phí trễ hạn 32.234.163 đồng, phí vượt hạn mức: 3.904.516 đồng và phí khác: 1.200.000 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
1.2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày 18/3/2022 bà Sô K còn phải trả số tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần XNKVN thì lãi suất mà bà Sô K phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần XNKVN.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 6.126.841 (sáu triệu một trăm hai mươi sáu nghìn tám trăm bốn mươi mốt nghìn) đồng .
2.1. Bà Thạch Thị Sô K phải chịu số tiền là 6.126.841 đồng (sáu triệu một trăm hai mươi sáu nghìn tám trăm bốn mươi mốt nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
2.2. Ngân hàng thương mại cổ phần XNKVN không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.405.433 (một triệu bốn trăm lẻ năm nghìn bốn trăm ba mươi ba) đồng theo biên lai thu tiền số 0044839 ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM. - VKSND Q8. - Chi cục Thi hành án dân sự Q8. - Các đương sự. - Lưu:VT, hs. | Lê Văn Giàu |