- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? hông chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông Phùng Văn N, ông Phùng Văn N1, ông Phùng Văn N2, ông Phùng Văn N3, ông Phùng Văn Ni4.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NH N N TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 184/2022/DS-PT Ngày: 24 – 5 – 2022 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH N N TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Ng c Vạng.
Các Thẩm phán:
Ông Sỹ Danh Đạt;
Ông Đinh Chí Tâm;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n Bảo Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp.
- i diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh ồng Tháp: Bà Vũ Thị Thu Hằng - i m sát vi n tham gia phiên tòa.
Trong ngày 24/5/2022, tại trụ s Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 62/2022/TLPT-DS ngày 04 tháng 3 năm 2022, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2022/DS-ST ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố H bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 112/2022/QĐ-PT ngày 28 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguy n đơn:
1.1. Ông Phùng Văn N, sinh năm 1962
1.2. Ông Phùng Văn N1, sinh năm 1967
1.3. Ông Phùng Văn N2, sinh năm 1970
1.4. Ông Phùng Văn N3, sinh năm 1972
1.5. Ông Phùng Văn N4, sinh năm 1975
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phùng Văn N, ông Phùng Văn N2, ông Phùng Văn N3, ông Phùng Văn N4: Ông Phùng Văn N1, sinh năm 1967; cùng địa ch : Khóm A, phường B, thành phố H, t nh Đ ng Tháp. (Có mặt)
2. Bị đơn: Anh Châu Quốc P, sinh năm 1982; địa ch : Khóm A, phường B, thành phố H, t nh Đ ng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Văn N, sinh năm 1964; địa ch : ấp B, xã M, thành phố L, t nh An Giang. (Có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan:
3.1. Chị Võ Thị im A (vợ anh P), sinh năm 1988;
Đại diện theo ủy quyền của chị Võ Thị im A: Anh Châu Quốc P, sinh năm 1982; cùng địa ch : Khóm A, phường B, thành phố H, t nh Đ ng Tháp. (Vắng mặt)
3.2. Ông Nguy n Văn S, sinh năm 1960; địa ch : Ấp L, xã P, huyện N, t nh Đ ng Tháp. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
3.3. Ủy ban nhân dân thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Tấn Đ; Chức vụ: Chủ tịch UBND thành phố H; địa ch : hóm A, phường L, thành phố H, t nh Đ ng Tháp. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
4. Người kháng cáo: Ông Phùng Văn N, ông Phùng Văn N1, ông Phùng Văn N2, ông Phùng Văn N3, ông Phùng Văn N4 - Là nguy n đơn trong vụ án.
NỘI UNG VỤ ÁN:
- Ông Phùng Văn N1 (cũng là người đại diện hợp pháp của các nguyên đơn khác) trình bày: Ngu n gốc đất tranh chấp là của cha, mẹ của ông tên Phùng Văn C (C) (sinh năm 1926, mất năm 1999) và Nguy n Thị M (sinh năm 1935, mất năm 2003) nhận chuy n nhượng vào năm 1950 của ông Dương Văn D (đã chết), chiều ngang 20m, chiều dài 325m với giá 06 ch vàng 24kara, 9T8. hi nhận chuy n nhượng, do cha mẹ ông trả tiền chưa đủ n n hai b n không làm giấy tờ với nhau. Đến năm 1991, cha mẹ ông trả đủ tiền cho ông D thì hai b n có làm “tờ sang nhượng đất thổ cư” xác lập văn tự từ năm 1991, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã B. Tuy nhi n, năm 1979 đến năm 1980, ông Mai Công T (giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B thời đi m đó) và Châu hắc P quyền trư ng Công an xã dùng quyền lực chiếm đoạt một phần quyền sử dụng đất của gia đình ông, diện tích theo đo đạc thực tế là 693,8m2 (mảnh trích đo địa chính số 19-2019). Gia đình ông đã khiếu nại nhiều năm nhưng không được xem xét, giải quyết. hoảng năm 1986 đến năm 1987, ông Mai Công T tự ý lấy phần quyền sử dụng đất chiếm dụng của gia đình ông giao lại cho cha anh Châu Quốc P là ông Châu Khắc P (nguy n quyền Trư ng Công an thời đi m đó). Mặc dù quyền sử dụng đất này gia đình ông hiện đang quản lý nhưng ông P vẫn nhận chuy n nhượng quyền sử dụng đất từ ông Thành. hi ông P chết, anh Châu Quốc P thừa kế quản lý, sử dụng, xây cất chu ng trại nuôi gà vịt tr n đất này cho đến nay đã tiếp tục chuy n nhượng quyền sử dụng đất này cho ông Nguy n Văn S.
Nay ông là nguy n đơn, đ ng thời là người đại diện theo ủy quyền của các nguy n đơn y u cầu anh Châu Quốc P phải trả cho gia đình ông quyền sử dụng đất diện tích theo đo đạc thực tế là 693,8m2 (mảnh trích đo địa chính số 19-2019), thuộc thửa 167, tờ bản đ số 21; tháo dỡ, di dời trại vịt và vật kiến trúc đ trả lại quyền sử dụng đất n u tr n cho gia đình ông; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Châu Quốc P. Ông thống nhất diện tích theo đo đạc thực tế là 693,8m2 thuộc thửa 167, tờ bản đ số 21 theo mảnh trích đo địa chính số 19-2019 và thống nhất theo Bi n bản thỏa thuận giá ngày 04/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã H (nay là thành phố H). Đối với ông Nguy n Ng c T thì Tòa án cũng đã xác minh, nhưng hiện nay không biết ông T đang đâu, n n ông không y u cầu gì li n quan đến ông Nguy n Ng c T, Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông cam kết không kh i kiện bổ sung từ nay cho đến khi kết thúc vụ kiện.
- Anh Châu Quốc P (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của chị Võ Thị Kim A) trình bày: Ngu n gốc đất tranh chấp là của cha, mẹ của anh tên Châu hắc P (sinh năm 1956, mất năm 2016) và Nguy n Lệ T (không nhớ năm sinh) nhận chuy n nhượng vào ngày 29/6/1991 của ông Nguy n Ng c T, ông Nguy n Ng c T mua đất này của Ban Ch huy thanh ni n xung phong t nh. hi chuy n nhượng, hai b n có làm “giấy nhượng quyền s hữu đất đai thổ cư”, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã B với chiều ngang 20m, chiều dài 44m, diện tích 880m2, giá 02 ch vàng 24kara. Năm 1993, cha anh là Châu hắc P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa đất n u tr n, đến ngày 07/01/2000, do có sai sót trong việc cấp giấy n n Nhà nước hủy toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tr n địa bàn xã B . Năm 2016, cha anh mất, n n anh được hư ng thừa kế quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ngày 25/5/2016, anh sử dụng ổn định cho đến nay. Qua y u cầu của các nguy n đơn, anh không thống nhất. Anh thống nhất diện tích theo đo đạc thực tế là 693,8m2 thuộc thửa 167, tờ bản đ số 21 theo mảnh trích đo địa chính số 19-2019 và thống nhất theo Bi n bản thỏa thuận giá ngày 04/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã H (nay là thành phố H). Anh cam kết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh hiện nay không thế chấp cho tổ chức tín dụng hay cá nhân nào đ vay vốn ngân hàng. Tại phi n tòa,anh P khẳng định và cam kết ngoài thỏa thuận bằng giấy tay bán đất cho ông Nguy n Văn S thì anh không bán cho người nào khác. Anh cam kết không y u cầu phản tố từ nay cho đến khi kết thúc vụ kiện.
- Ông Nguyễn Văn S có đơn xin vắng mặt nhưng có ý kiến trình bày: Nguyên vào ngày 29/01/2019 ông có làm hợp đ ng chuy n nhượng quyền sử dụng đất tại thửa 167, tờ bản đ số 21, diện tích 745,0m2, loại đất nuôi tr ng thủy sản với anh Châu Quốc P, đất t a lạc tại ấp A, xã B , thị xã H, t nh Đ ng Tháp. Giá chuy n nhượng là 1.600.000.000đ (Một tỷ sáu trăm triệu đ ng). Anh Châu Quốc P đã nhận tạm ứng của ông nhiều lần với tổng số tiền đến ngày 27/9/2019 là 350.000.000đ (ba trăm năm chục triệu đ ng). Phần còn lại khi nào hai b n đến Phòng công chứng làm hợp đ ng chuy n nhượng xong thì thanh toán đủ. Nay ông làm tờ khai này gửi đến Tòa án về sự thật mua bán giữa ông và anh P. Ngày 27/5/2020, ông có bản khai bổ sung: Đối với vụ án này ông không tranh chấp hay y u cầu gì đối với nguy n đơn và bị đơn. Việc mua bán giữa ông và anh Châu Quốc P đ hai b n tự thỏa thuận giải quyết, nếu không được sẽ kh i kiện trong một vụ án khác khi có y u cầu. Ông cam kết không y u cầu độc lập đến khi kết thúc vụ kiện.
- Ủy ban nhân dân thành phố H trình bày: Qua ki m tra, rà soát Ủy ban nhân dân thành phố H không có ý kiến, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố H đã quyết định:
1/ Không chấp nhận y u cầu kh i kiện của các nguy n đơn ông Phùng Văn N, ông Phùng Văn N1, ông Phùng Văn N2, ông Phùng Văn N3 và ông Phùng Văn N4 về việc y u cầu hộ anh Châu Quốc P phải tháo dỡ, di dời trại vịt và vật kiến trúc khác đ trả cho gia đình các nguy n đơn quyền sử dụng đất diện tích theo đo đạc thực tế là 693,8m2, thuộc thửa 167, tờ bản đ số 21, đất do hộ anh Châu Quốc P đứng t n quyền sử dụng đất.
2/ hông chấp nhận y u cầu của các nguy n đơn ông Phùng Văn N, ông Phùng Văn N1, ông Phùng Văn N2, ông Phùng Văn N3 và ông Phùng Văn N4 về việc y u cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 167, tờ bản đ số 21 của hộ anh Châu Quốc P đứng t n quyền sử dụng đất.
3/ Hộ anh Châu Quốc P được tiếp tục s hữu, sử dụng phần đất diện tích 693,8m2 thuộc thửa 167, tờ bản đ số 21, theo các mốc 1-2-3-4-5-6-1, do hộ anh Châu Quốc P đứng t n quyền sử dụng đất.
(Theo mảnh trích đo địa chính số 19-2019, ngày 09/7/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã H (nay là thành phố H).
4/ Về án phí và chi phí tố tụng:
* Về án phí:
- Buộc các nguy n đơn Phùng Văn N1, Phùng Văn N2, Phùng Văn N3, Phùng Văn N4 cùng li n đới nộp 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.042.000đ, theo bi n lai số 0007204, ngày 05/6/2019. Các nguy n đơn được nhận lại số tiền 742.000đ (Bảy trăm bốn mươi hai nghìn đ ng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H. Riêng ông Phùng Văn N là người cao tuổi n n được mi n tiền án phí theo quy định.
- Hộ anh Châu Quốc P không phải chịu tiền án phí Dân sự sơ thẩm.
* Về chi phí tố tụng: Các nguy n đơn ông Phùng Văn N, Phùng Văn N1, Phùng Văn N2, Phùng Văn N3, Phùng Văn N4 phải chịu tiền chi phí tố tụng tổng cộng là: 3.194.000đ (Ba triệu một trăm chín mươi bốn nghìn đ ng), ông Phùng Văn N1 đại diện cho các nguy n đơn đã nộp và đã chi xong.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuy n về quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/01/2022 ông Phùng Văn N, ông Phùng Văn N1, ông Phùng Văn N2, Phùng Văn N3, Phùng Văn N4 kháng cáo y u cầu ông P trả lại đất cho các nguy n đơn.
- Tại phi n tòa phúc thẩm:
+ Ông N1 trình bày: Các nguy n đơn vẫn giữ nguy n kháng cáo và cho rằng đất của gia đình nguy n đơn nhận chuy n nhượng của cụ D nhưng cụ P cha của ông P vào bao chiếm sử dụng từ năm 1981. Việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho cụ P không có đo đạc thực tế n n không có tranh chấp. Phần đất tranh chấp không bỏ hoang hóa.
+ Ông N đại diện theo ủy quyền của ông P trình bày: Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ án và y u cầu giữ nguy n quyết định của bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện ki m sát nhân dân t nh Đ ng Tháp phát bi u ý kiến về giải quyết vụ án:
+ Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đ ng xét xử, Thư ký và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Ông N1 cho rằng cha mẹ của ông mua đất từ năm 1950 đến năm 1991 trả đủ tiền mới làm tờ sang nhượng đất thổ cư. Tr n đất này cụ P cất nhà từ năm 1981, được cấp giấy chứng nhận vào năm 2003, ông P thừa kế và cũng được cấp giấy chứng nhận vào năm 2016, diện tích thực tế 693,8m2 thửa 167 tờ bản đ số 21. Ông N1 thừa nhận phần đất tranh chấp trước đây ông Mai Công T đào ao, l n liếp và từ khi gia đình ông T, cụ P sử dụng thì gia đình Ông N1 không còn sử dụng nữa. Ông N1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh cụ P bao chiếm đất mà ch th hiện gia đình Ông N1 khiếu nại từ năm 1996 đến năm 2000 thì không còn khiếu nại.
Theo lời khai của ông H con của cụ D trình bày là ông và mẹ của ông ký t n vào tờ sang nhượng đất năm 1991, nhưng thực tế ông không biết vị trí đất. Tuy nhi n đến ngày 26/6/2020 thì ông H phủ nhận lời khai ban đầu và cho rằng ngu n gốc đất tranh chấp là của cụ C mua của cụ D. Ông Nguy n Văn D khai không biết ngu n gốc đất mà ch nghe Ông N1 nói lại đất bị người khác bao chiếm n n tranh chấp. Vì vậy ông P được cấp QSDĐ là phù hợp, n n không có cơ s đ hủy giấy chứng nhận của ông P; đề nghị giữ nguy n bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của các nguy n đơn.
Sau khi nghi n cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phi n tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1 Các nguy n đơn kh i kiện ông P y u cầu trả đất, Tòa án nhân dân thành phố H thụ lý giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm là đúng quy định. háng cáo của các nguy n đơn hợp lệ n n chấp nhận. Ông Phùng Văn N, ông Phùng Văn N2, Phùng Văn N3, Phùng Văn Ni4 ủy quyền cho ông Phùng Văn N1; ông Châu Quốc P ủy quyền cho Ông N thủ tục phù hợp n n chấp nhận. Ông Sép và đại diện Ủy ban nhân dân thành phố H có đơn xin xét xử vắng mặt và bà Võ Thị im A (ủy quyền cho ông P) được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do n n xét xử theo quy định.
Ông N1 cho rằng, ngu n gốc đất tranh chấp là của cụ C và cụ M, vì trước đây vợ ch ng cụ C nhận chuy n nhượng của cụ D (chết) phần đất ngang 20m dài 325m giá 06 ch vàng 24k, trong đó có phần đất tranh chấp. Cụ C quản lý sử dụng từ năm 1950 đến năm 1991 mới thanh toán đủ vàng cho gia đình cụ D, n n cụ T và ông H (vợ và con của cụ D) mới làm tờ sang nhượng đất thổ cư ngày 08/10/1991. Do gia đình cụ P, ông P bao chiếm đất n n y u cầu ông P trả lại đất. Ông P trình bày, ngu n gốc đất tranh chấp là của cụ P và cụ T nhận chuy n nhượng của ông T (không còn cư trú địa phương) chiều ngang 20m dài 44m diện tích 880m2 và có lập giấy nhượng quyền s hữu đất đai thổ cư ngày 29/6/1991. Nay ông P được cấp giấy chứng nhận QSDĐ năm 2016, diện tích 745m2 (diện tích thực tế 693,8m2) thửa 167 tờ bản đ số 21, đất tại phường B, thành phố H, ĐT, n n không đ ng ý theo y u cầu của Ông N1.
3 Xét thấy, tại bi n bản lấy lời khai ngày 22/7/2019, ông Vương Ng c H khai cha mẹ của ông có bán cho cụ C một phần đất giá 06 ch vàng 24k vào năm 1991, thời đi m đó cụ D đã chết n n ông cùng với mẹ của ông ký t n vào tờ sang nhượng đất thổ cư, nhưng thực tế miếng đất cụ D chuy n nhượng nằm vị trí nào thì ông không biết. Tuy nhi n tại bi n bản lấy lời khai ngày 26/6/2020, ông H xác nhận ngu n gốc diện tích đất tranh chấp là của cụ C mua của cụ D vào năm 1950. Ông Nguy n Văn D khai rằng, ông không biết ngu n gốc đất mà ch có nghe Ông N1 nói lại là đất của Ông N1 bị bao chiếm. Ông L Văn S (sinh năm 1950) và ông Bùi Văn N (sinh năm 1945) xác nhận đất ông P đang cất nhà là do ông Mai Công T bao chiếm bán lại cho cụ P, nhưng ông thừa nhận là không biết được việc chuy n nhượng đất giữa cụ D với cụ C (bút lục 317, 357). Như vậy lời khai nhân chứng có sự thay đổi không rõ ràng, không biết rõ sự việc, không bảo đảm sự thật khách quan n n không chấp nhận.
Đối với việc Ông N1 cho rằng cụ P bao chiếm đất: Tại phi n tòa phúc thẩm, Ông N1 khai khi nhận chuy n nhượng thì phần đất của cụ D đang sản xuất, nhưng theo lời khai của ông H xác nhận có nghe mẹ của ông nói lại là phần đất tranh chấp trước đây là hoang hóa (bút lục 424). Hơn nữa, trước đây ông Mai Công T có thời gian đào ao, l n liếp tr ng cây đến năm 1981 thì cụ P cất nhà và gia đình Ông N1 không còn quản lý cho đến nay. Mặt khác, Ông N1 khai khi cụ P bao chiếm đất thì đất ông đang sử dụng tr ng hoa màu, nhưng Ông N1 cũng không có chứng cứ th hiện là đã có y u cầu chính quyền địa phương lập bi n bản về việc bao chiếm đất ngoài thực địa.
Ông N1 khai cụ P bao chiếm đất thì Ông N1 có tranh chấp và gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã B từ năm 1996, đến năm 2000 thì Ông N1 gửi đơn cho Ủy ban nhân dân huyện y u cầu giải quyết tranh chấp nhưng cũng không được xem xét giải quyết. Nhận thấy, theo ông Nguy n Văn T khai: Trước đây ông là cán bộ thanh tra của xã có nhận đơn khiếu nại của Ông N1 vào ngày 21/5/1996. Ông N1 khiếu nại việc ông S và cụ P bao chiếm đất, nhưng sau đó ông được điều động về ấp công tác n n không biết việc giải quyết đơn của Ông N1 và ông Tâm xác nhận cụ P nhận chuy n nhượng đất từ ông Mai Công T. Tr n thực tế vào thời đi m nói tr n Ủy ban nhân dân xã B có xem xét giải quyết khiếu nại của Ông N1, nhưng thông báo của Ủy ban nhân dân xã không th hiện Ông N1 khiếu nại đối với ông Sàng và đã bác y u cầu của Ông N1, chứ hoàn toàn không có nội dung li n quan đến tranh chấp đất với cụ P. Ủy ban nhân dân xã B ý kiến: Việc vợ ch ng cụ M (ông Mai Công T là con cụ Mãnh) khai phá đất tranh chấp và sau đó nhượng lại cho cụ P thì gia đình cụ C có sử dụng đất hay không thì hiện tại Ủy ban xã không nắm và không có quản lý h sơ đất đai nào do Ban ch huy Thanh ni n xung phong T nh quản lý (Công văn số 08/UBND-TP ngày 08/01/2020).
Ủy ban nhân dân thành phố H (thị xã H trước đây) ý kiến như sau: Giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho cụ P lần đầu vào năm 2003, thời đi m cấp giấy không phát sinh tranh chấp và đủ điều kiện cấp giấy theo quy định. Việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông P thửa 167 là đúng trình tự thủ tục, thời đi m cấp giấy chứng nhận không có đo đạc và không phát sinh tranh chấp. Sau khi cấp giấy chứng nhận cho cụ P và ông P thì cũng không có nhận đơn khiếu nại của anh em Ông N1 (Công văn số 1310/UBND-HC ngày 02/10/2019; số 821/UBND-HC ngày 16/6/2020), n n y u cầu xem xét hủy giấy chứng nhận là không có cơ s .
Qua nội dung tr n cho thấy, ngu n gốc đất đang bỏ hoang hóa, ông T khai m sử dụng sau đó đến cụ P quản lý sử dụng được Nhà nước công nhận cấp giấy chứng nhận QSDĐ vào năm 2003 phù hợp quy định của pháp luật đất đai vào thời đi m trước đây. Cụ P, ông P khai thác sử dụng li n tục tr n 40 năm thuộc trường hợp người quản lý sử dụng bất động sản tr n 30 năm thì tr thành chủ s hữu (Điều 236 Bộ luật dân sự năm 2015). Vì vậy y u cầu kháng cáo của các nguy n đơn là không có cơ s .
Đại diện Viện ki m sát nhân dân t nh Đ ng Tháp, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các nguy n đơn. Giữ nguy n bản án sơ thẩm là có cơ s như đã phân tích tr n.
Do đó giữ nguy n bản án sơ thẩm, không chấp nhận y u cầu kháng cáo của các nguy n đơn. Tuy nhi n, tại phi n tòa phúc thẩm Ông N trình bày là đất được Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSDĐ, n n thống nhất không phải tuy n công nhận cho ông P được quyền sử dụng. Vì vậy, điều ch nh lại cách tuy n án. Các phần khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Án phí: Ông Phùng Văn N, ông Phùng Văn N1, ông Phùng Văn N2, ông Phùng Văn N3, ông Phùng Văn Ni4 li n đới chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ.
Vì các lẽ tr n;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, Điều 35, đi m c khoản 1 Điều 39, Điều 147, 148, 157, 227, 228, 271, 273 và khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166, 182, 183, 236 của Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 99, 100, 101, 166, 184 và khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 12, 26 và khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. hông chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông Phùng Văn N, ông Phùng Văn N1, ông Phùng Văn N2, ông Phùng Văn N3, ông Phùng Văn Ni4.
Giữ nguy n bản án dân sự sơ thẩm.
2. hông chấp nhận y u cầu của ông Phùng Văn N, ông Phùng Văn N1, ông Phùng Văn N2, ông Phùng Văn N3, ông Phùng Văn Ni4, về việc y u cầu hộ ông Châu Quốc P di dời tài sản đ trả cho các nguy n đơn diện tích đất đo đạc thực tế 693,8m2, thuộc thửa số 167 tờ bản đ số 21, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Châu Quốc P năm 2016 (diện tích cấp giấy 745m2); đất tại phường B, thành phố H, t nh Đ ng Tháp (k m Mảnh trích đo địa chính số 19-2019 ngày 09/7/2019).
3. Về án phí: Ông Phùng Văn N là người cao tuổi n n được mi n tiền án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
Ông Phùng Văn N1, ông Phùng Văn N2, ông Phùng Văn N3, ông Phùng Văn Ni4 li n đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ và tiền án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 1.042.000đ theo bi n lai số 0007204 ngày 05/6/2019 và bi n lai số 0006473 ngày 28/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, t nh Đ ng Tháp. Vậy được nhận lại số tiền thừa là 742.000đ.
4. Chi phí tố tụng: Ông Phùng Văn N, ông Phùng Văn N1, ông Phùng Văn N2, ông Phùng Văn N3, ông Phùng Văn Ni4 li n đới chịu số tiền 3.194.000đ. Ông N1 đại diện nộp và chi xong.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuy n án./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - V SND T nh; - TAND thành phố H; - Chi cục THADS thành phố H; - Phòng KTNV &THA- TAND T nh; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Vạng |