- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bản án"
- Tòa quyết gì? Về hình thức: xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Hồng L và bị đơn ông Lê Phi S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 184/2021/DS-ST Ngày: 19-11-2021 V/v tranh chấp về hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Hữu Quang;
2. Bà Hồ Thị Lệ Thu.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Loan- Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7 – Tp. Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Tp.HCM: Bà Trần Thị Hồng Gấm- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2021 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 492/2020/DSST ngày 14/12/2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2021/QĐXXST-DSST ngày 01/6/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 97/2021/QĐST-DS ngày 24/6/2021 và Thông báo dời ngày xét xử ngày 23/7/2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V; địa chỉ trụ sở: A Đường Đoàn Văn B, Phường 12, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh; Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Hồng L, sinh năm 1981; địa chỉ: B, xã Phước K, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền theo Văn bản ủy quyền số 72/UQTA-VH.20 ngày 29/4/2020 của Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V (VPB FC). (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa).
Bị đơn: Ông Lê Phi S, sinh năm 1991; địa chỉ C, khu phố 1, phường Tân Q, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn do ông Phan Hồng L đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 04/11/2015, ông Lê Phi S có ký Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151104-100145-0013 với Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V để vay số tiền 61,031,763 đồng (Sáu mươi mốt triệu, không trăm ba mươi mốt ngàn, bảy trăm sáu mươi ba đồng chẵn) với lãi suất thoả thuận 4.17%/tháng, mục đích vay: tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông Lê Phi Sơn có trách nhiệm thanh toán tổng số tiền 108,017,000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 30 tháng: 29 tháng đầu, mỗi tháng trả 3,602,000 đồng, tháng cuối cùng trả 3,559,000 đồng, bắt đầu từ ngày 09/12/2015.
Thực hiện hợp đồng, ông Lê Phi S đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V 20 lần với tổng số tiền đã trả 72,076,000 đồng. Kể từ ngày 02/09/2017 đến nay, ông Lê Phi S không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.
Do khách hàng trễ hạn thanh toán nên Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Phi S thanh lý hợp đồng trả một lần cho Công ty toàn bộ số tiền nợ bao gồm các khoản sau:
- Trả toàn bộ khoản nợ đến hạn là : 35,941,000 đồng; trong đó
- Khoản nợ gốc là: 28,945,532 đồng
- Khoản nợ lãi là: 6,995,468 đồng
Như vậy, tổng số tiền mà ông Lê Phi S phải thanh toán cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V tính đến ngày 19/11/2021 là 35,941,000 đồng. Trong trường hợp ông Lê Phi S tự nguyện thi hành án đúng hạn, ông Lê Phi S còn phải thanh toán thêm cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V số tiền lãi chậm trả theo quy định của pháp luật, trên toàn bộ số tiền gốc trả chậm tính từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, cho đến ngày thanh toán xong cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V.
Tại phiên tòa hôm nay:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phan Hồng L có Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 10/7/2021 và được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị đơn là ông Lê Phi S đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2021/QĐXXST-DSST ngày 01/6/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 97/2021/QĐST-DS ngày 24/6/2021 và Thông báo dời ngày xét xử ngày 23/7/2021 nhưng ông Lê Phi S vẫn vắng mặt không rõ lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
I. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định về: thẩm quyền thụ lý quy định tại các Điều từ 26 đến Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ 93 đến 97 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về thời hạn chuẩn bị xét xử.
* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
- Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Nguyên đơn và người đại diện đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
II. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 471, Điều 472 Bộ luật Dân sự 2005.
Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ vào đơn khởi kiện và yêu cầu của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V về việc buộc bị đơn ông Lê Phi S phải thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ lại theo Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151104-100145-0013 ngày 04/11/2015 thì đây là tranh chấp về “Hợp đồng vay tài sản” được quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151104-100145-0013 ngày 04/11/2015 thể hiện là ông Lê Phi S tại thời điểm ký kết với Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V có địa chỉ tại B, khu phố 1, phường Tân Q, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào Kết quả cung cấp chứng cứ của Công an phường Tân Q Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị đơn là “Ông Lê Phi S có hộ khẩu thường trú tại C, khu phố 1, phường Tân Q, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư ngụ tại C, khu phố 1, phường Tân Q, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2015 đến nay” nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 5, Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 5/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp lại đơn khởi kiện, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về hình thức:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn là ông Lê Phi S đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151104-100145-0013 ngày 04/11/2015 và các chứng cứ khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để kết luận: Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V có cho ông Lê Phi S vay số tiền 61,031,763 đồng (Sáu mươi mốt triệu, không trăm ba mươi mốt ngàn, bảy trăm sáu mươi ba đồng chẵn) với lãi suất thoả thuận 4.17%/tháng, mục đích vay: tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông Lê Phi S có trách nhiệm thanh toán số tiền 108,017,000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 30 tháng; 29 tháng đầu, mỗi tháng trả 3,602,000, tháng cuối cùng 3,559,000 đồng. Bắt đầu từ ngày 09/12/2015.
Căn cứ vào bản chi tiết sử dụng và tính lãi hợp đồng tín dụng của Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V, đủ căn cứ xác định ông Lê Phi S đã thanh toán cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V20 lần với tổng số tiền đã trả 72,076,000 đồng. Tính đến ngày 19/11/2021, ông Lê Phi S còn nợ lại 35,941,000 đồng, trong đó nợ gốc là: 28,945,532 đồng, nợ lãi là: 6,995,468 đồng.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông Lê Phi S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa để giải quyết, không cung cấp chứng cứ, vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa hôm nay nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì trình bày của nguyên đơn được chấp nhận mà không cần phải chứng minh do bị đơn đã không đưa ra chứng cứ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn là ông Lê Phi S phải thanh toán nợ gốc 28,945,532 đồng, nợ lãi là: 6,995,468 đồng, tổng cộng 35,941,000 đồng.
Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì kể từ ngày 20/11/2021, ông Lê Phi S còn phải thanh toán cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Đơn đề nghị vay vốn kiêm giấy đăng ký kiêm hợp đồng tín dụng số 20151104-1000145-0013 ngày 04/11/2015 cho đến khi thanh toán hết nợ.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán theo quy định của Luật phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điểm a, Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Luật phí, lệ phí Tòa án và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
- Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Xử:
1. Về hình thức: xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Hồng L và bị đơn ông Lê Phi S.
2. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V
- Buộc bị đơn là ông Lê Phi S phải thanh toán số tiền nợ gốc nợ gốc 28,945,532 đồng, nợ lãi là: 6,995,468 đồng, tổng cộng 35,941,000 đồng.
Ngoài ra, kể từ ngày 20/11/2021, ông Lê Phi S còn phải thanh toán cho Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151104-100145-0013 ngày 04/11/2015 cho đến khi thanh toán hết nợ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Phi S phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1,797,000 đồng.
Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam V không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là là 898,525 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0041961 ngày 14/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam V.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam V và ông Lê Phi S được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày được tống đạt bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Tp.HCM; - VKSND Quận 7, Tp.HCM; - Chi cục THADS Quận 7, Tp.HCM; - Các đương sự; - Lưu (TK Loan). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Hiếu |