- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Y + L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Thế L, sửa một phần án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 474 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 184/2021/DS-PT Ngày: 16-12-2021 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đăng
Các Thẩm phán:
Ông Vương Minh Tâm
Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Thành - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Bà Trần Thị Trúc Lâm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 141/2021/DS-PT ngày 03 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2021/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 198/2021/QĐ-PT ngày 22 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh năm 1957 (có mặt).
Địa chỉ: K6 TP, Khóm 6, Phường 4, Thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thế L, sinh năm 1965 (có mặt).
Địa chỉ: đường 3/2, khóm 1, thị trấn CN, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.
3. Người làm chứng:
Ông Nguyễn Yến Duy K, sinh năm 1982 (có mặt).
Địa chỉ: K6 TP, Khóm 6, Phường 4, Thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng Y trình bày:
Bà Nguyễn Thị Hoàng Y và ông Nguyễn Thế L có quan hệ huyết thống là chị, em ruột của nhau. Vào năm 1998 do cần tiền mua xe gắn máy nên ông L có mượn bà Y 40 chỉ vàng 24kara, không thỏa thuận thời gian trả; lúc mượn vàng có làm giấy nhưng do thời gian quá lâu nên bà Y đã làm thất lạc giấy mượn vàng. Ngày 09/7/2020 gia đình tổ chức họp mặt để giải quyết vụ ông Nguyễn Thế L mượn vàng của bà Y có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Mai, bà Nguyễn Thị Hồng Xem cũng là chị, em ruột trong gia đình, ông Nguyễn Thế L chính tay viết giấy thừa nhận mượn bà Y 30 chỉ vàng gồm: 04 chiếc nhẫn vàng 24kara mỗi chiếc 05 chỉ vàng 24kara; Một sợi dây chuyền 24kara 10 chỉ vàng. Ông L cho rằng ông đã bán 20 chỉ vàng cùng vào thời điểm năm 1998 và cộng thêm tiền nhà được 4.300.000đồng; Cùng năm 1998 trả tiếp cho bà Tám 09 chỉ vàng 24kara dùm bà Y (hiện nay bà Tám đã chết) là không có, bà Y không thừa nhận đã nhận vàng tiền, vàng như ông L trình bày.
Bị đơn ông Nguyễn Thế L trình bày: Vào năm 1998 do cần tiền mua xe gắn máy nên ông L có mượn bà Y 27 chỉ vàng 24kara, số lượng vàng gồm: 04 chiếc nhẫn vàng 24kara mỗi chiếc 05 chỉ vàng 24kara; Một sợi dây chuyền 24kara sau khi ra tiệm vàng cân lại thì chỉ có 07 chỉ vàng 24kara. Ông L cho rằng ông đã bán 20 chỉ vàng cùng vào thời điểm năm 1998 và cộng thêm tiền nhà được 4.300.000đồng để trả bà Y; Cùng năm 1998 ông L trả 09 chỉ vàng 24kara mà bà Y đã mượn của bà Tám (hiện nay bà Tám đã chết) .
Đối với yêu cầu của bà Y buộc ông L trả 30 chỉ vàng 24kara ông L không đồng ý. Ông L thừa nhận có mượn 27 chỉ vàng 24kara, ông L đã trả xong như lời trình bày của ông L trong văn bản mà bà Y cung cấp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2021/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh Vĩnh Long đã xử:
Áp dụng: Điều 471, 474 của Bộ luật dân sự năm 2005;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Điều 147, 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoàng Y.
Buộc ông Nguyễn Thế L trả bà Nguyễn Thị Hoàng Y 30 chỉ vàng 24kara (Ba mươi chỉ vàng hai mươi bốn kara).
2. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Thế L nộp 7.950.000đ (Bảy triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng)
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 25 tháng 6 năm 2021, bị đơn ông Nguyễn Thế L có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Yêu cầu triệu tập những người làm chứng gồm Bà Đặng Hồng Thủy, và Nguyễn Yến Duy Khang.
Tiến hanh đối chất giữa ông L, bà Huỳnh Thị Loan, bà Đặng Hồng Thủy và Nguyễn Yến Duy Khang để chứng minh cho việc trả nợ của ông L.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
Ông L trình bày: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không đồng ý nội dung bản án sơ thẩm và không đồng ý trả vàng cho bà Y.
Bà Y trình bày: Không đồng ý theo yêu cầu của ông L, yêu cầu ông L trả 27 chỉ vàng 24K do tại phiên tòa ông L thừa nhận nợ 27 chỉ vàng 24K.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm.
Về nội dung: Phân tích nội dung, chứng cứ và đề nghị sửa án sơ thẩm, ghi nhận sự tự nguyện của bà Y về việc yêu cầu ông L trả lại 27 chỉ vàng 24K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ được thể hiện tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của các đương sự; Căn cứ vào kết quả tranh luận và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông L còn trong hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Vào năm 1998 bà Y có cho ông L mượn vàng do là chị em ruột, bà Y trình bày cho ông L mượn 30 chỉ vàng 24K, ông L thừa nhận mượn 27 chỉ vàng 24K, phía ông L cho rằng sau khi mượn ông đã trả đủ vàng cho bà Y. Thể hiện lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn thì phía ông L thừa nhận có mượn của bà Y 27 chỉ vàng 24K, ông đã trả cho bà Y nhưng bà Y không Thừa nhận, ngoài lời trình bày của ông L thì không có chứng cứ gì để chứng minh ông L trả vàng cho bà Y. Tại phiên tòa phúc thẩm bà Y yêu cầu ông L trả cho bà 27 chỉ vàng 24K, nên ông L phải có nghĩa vụ trả cho bà Y 27 chỉ vàng 24K, từ nhận định trên chấp nhận một phần kháng cáo của ông L, sửa một phần bản án sơ thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông L nộp trên 27 chỉ vàng 24K tương đương 7.155.000 đồng.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông L không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm do sửa án sơ thẩm.
Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu L pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Thế L, sửa một phần án sơ thẩm.
Áp dụng Điều 471, 474 của Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Buộc ông Nguyễn Thế L trả cho bà Nguyễn Thị Hoàng Y số vàng 27 (hai mươi bảy) chỉ vàng 24K.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thế L nộp 7.155.000 đồng (bảy triệu một trăm năm mươi lăm ngàn đồng)
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thế L không phải nộp. Hoàn trả lại ông L 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số 0006926 ngày 01/7/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện MT.
Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu L pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải chịu thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, được quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
Bản án phúc thẩm có hiệu L pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao: 01; - VKSND tỉnh Vĩnh Long: 02; - Chánh án: 01; - TAND HMT: 01; - THADS HMT: 01; - Các đương sự; - Lưu: 06; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Đăng |