vanban.org

Bản án 184/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 17/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phún Triệu N phạm Tội cƣớp giật tài sản.

Xử phạt bị cáo Phún Triệu N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/5/2018. Án phí sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phún Triệu N phạm Tội cướp giật tài sản. - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phún Triệu N phạm Tội cƣớp giật tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 184/2018/HS-ST
Ngày 19-7-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;

2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quyết, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 174/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2018 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 188/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Phún Triệu N, sinh năm 1983 tại tỉnh D; thƣờng trú: 325 tổ 6, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Q, tỉnh N; chỗ ở: Tổ 15, khu phố T, phƣờng H, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; con ông Phún A Đ, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Phạm Thị Y, sinh năm 1964; bị cáo có 03 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1992; có vợ tên Huỳnh Ngọc Phƣơng H, sinh năm 1990; có hai ngƣời con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/5/2000 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 năm tù về Tội hiếp dâm trẻ em; bị bắt tạm giam ngày 24/5/2018 đến nay. Có mặt.

- Người bị hại: Chị Phạm Thị Kim L, sinh năm 1975; địa chỉ: 36/3 khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Hữu T, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ 15, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.

2. Phạm Văn H, sinh năm 1973; địa chỉ: 12/25 khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B.Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 21 giờ, ngày 24/5/2018, bị cáo Phún Triệu N đi bộ đến trƣớc cổng trƣờng mầm non Táo Xanh thuộc tổ 15, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B thì nhìn thấy chị Phạm Thị Kim L đang ngồi trên xe đạp điện, tay cầm 01 điện thoại di động hiệu Iphone. Bị cáo N đi đến gần ngƣời chị L, dùng hai tay giật điện thoại rồi chạy về hƣớng trƣờng đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, chị L tri hô và dùng xe đạp đuổi theo. Bị cáo N chạy bộ đƣợc khoảng 300 mét thì bị chị L cùng ngƣời dân bắt giữ giao Công an phƣờng Đ xử lý.

Vật chứng thu giữ: 01 Điện thoại Iphone 5S – 16G màu trắng bạc.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 156 ngày 05/6/2018 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận: 01 Điện thoại Iphone 5S – 16G màu trắng bạc trị giá 2.000.000 đồng. Đã trả lại cho ngƣời bị hại chị Phạm Thị Kim L.

Tại cáo trạng số: 185/QĐ - KSĐT ngày 26 tháng 6 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Phún Triệu N về Tội cƣớp giật tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Phún Triệu N mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo Phún Triệu N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ trong bản cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời bị hại và ngƣời làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Khoảng 21 giờ ngày 24/5/2018, bị cáo Phún Triệu N đi bộ đến trƣớc cổng trƣờng mầm non Táo Xanh thuộc tổ 15, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng thì phát hiện ngƣời bị hại là chị Phạm Thị Kim L đang ngồi trên xe đạp điện, tay cầm điện thoại di động. Bị cáo đi đến sát ngƣời bị hại, nhanh chóng dùng hai tay giật điện thoại trên tay chị L rồi bỏ chạy đƣợc khoảng 300 mét thì bị ngƣời bị hại cùng ngƣời dân bắt giữ.

Tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm...”.

Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo Phún Triệu N đã đủ yếu tố cấu thành Tội cƣớp giật tài sản. Do đó Cáo trạng số: 185/QĐ - KSĐT ngày 26 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã D và luận tội của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Phún Triệu N là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, gây nguy hại rất lớn cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ngƣời bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vì tham lam tƣ lợi mong muốn có tiền để tiêu xài nên đã cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại, ngƣời bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xem xét các tình tiết trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời có nhân thân xấu, ngày 25/5/2000 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 năm tù về Tội hiếp dâm trẻ em. Mặt khác bị cáo là lao động chính, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, có hai ngƣời con còn nhỏ.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại. Ngƣời bị hại không có yêu cầu bồi thƣờng gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phún Triệu N phạm Tội cƣớp giật tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phún Triệu N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/5/2018.

2. Án phí sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phún Triệu N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; ngƣời bị hại vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc đƣợc tống đạt hợp lệ.

T

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ