vanban.org

Bản án 184/2018/HN&GĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Về hôn nhân: Chị Trương Thị C được ly hôn anh Lê Quang L. Về con: Công nhận vợ chồng có hai con chung là cháu Lê Quang H- sinh ngày 27/8/2010 và cháu Lê Huyền T - sinh ngày 25/11/2014. Giao cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu H, giao cho chị C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu HT. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Chiên xin ly hôn anh Lộc"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HOÁ
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 184 /2018/HN&GĐ-ST
Ngày:29/6/2018
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-------------------------------------------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Phương Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Lê Xuân Thư

2. Bà Đỗ Thị Vân

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Binh – Cán bộ Toà án nhân dân huyện Hoằng Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Hoằng Hoá: Không tham gia.

Ngày 29 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoằng Hoá mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 149/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56 /2018/QĐXX-ST ngày 11/6/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trương Thị C- sinh năm 1986

Sinh quán: Thôn K, xã L, huyện H, tỉnh T.

Nơi ĐKHKTT: Thôn 7, xã A- huyện I, tỉnh K.

Bị đơn: Anh Lê Quang L - sinh năm 1989

Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện H, tỉnh T.

Tại phiên toà vắng mặt chị C và anh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 15/5/2018, bản tự khai ngày 21/5/2018, trong quá trình tố tụng nguyên đơn là chị Trương Thị C đã khai: giữa chị và anh Lê Quang ,- sinh năm 1986, người quê xã L, huyện H, tỉnh T có thời gian tìm hiểu rồi tự nguyện kết hôn, được UBND xã L cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 15/12/2009. Sau ngày cưới cuộc sống vợ chồng bình thường, hạnh phúc được đến 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh L ra ngoài làm ăn đã sa vào tệ nạn xã hội, tôi có khuyên bảo nhiều mà không được, vợ chồng càng mâu thuẫn thêm khi chị C phát hiện anh L cặp bồ với người đàn bà khác. Sau đó anh còn đánh đập, bỏ bê vợ con, sau đó thì anh Lộc bỏ vợ con đi. Một thời gian sau anh có gọi điện nhắn tin lại, nhưng đều là những lời lẽ khó nghe, vì vậy vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2017 cho đến nay. Nhưng thi thoảng anh về vẫn đánh đập vợ con và viết đơn đòi ly dị với chị , chị cũng đồng ý. Nay chị xét thấy thời gian ly thân đã dài, hai bên không thể hàn gắn được, nên làm đơn xin ly hôn đối với anh Lê Quang L.

Về con: Vợ chồng có hai con chung là cháu Lê Quang H- sinh ngày 27/8/2010, hiện nay đang ở với bố và ông bà nội ở quê xã L, huyện H; Cháu thứ hai là Lê Huyền T, sinh ngày 25/11/2014, hiện nay cháu đang ở với mẹ. Nay ly hôn chị cũng muốn nuôi cả hai cháu tuy nhiên do hiện nay cháu H đang ở với ông bà nội và bố nên chị cũng không muốn thay đổi môi trường sống của cháu, nên để cháu H cho anh L nuôi, còn chị nuôi cháu H T.

Về tài sản: Chị Trương Thị C không yêu cầu giải quyết.

Sau khi Tòa án tống đạt giấy triệu tập cho anh Lê Quang L, anh L không có mặt tại Tòa án để làm việc mà mẹ đẻ của anh là bà Bùi Thị T- sinh năm 1967, trú tại: Thôn Đ, xã L, huyện H đã xin được trình bày: Con trai tôi là Lê Quang L đã kết hôn với chị Trương Thị C người xã T. Sau ngày cưới vợ chồng sống cùng với ông bà tôi, cho đến khi con trai đầu là cháu H được hai tuổi thì mâu thuẫn vợ chồng xảy ra, là do chị C phát hiện ra anh L sa vào tệ nạn xã hội. Cứ mỗi lần vợ chồng cãi vã, là lại tính đến chuyện ly hôn. Tôi không biết cô C và anh L đã từng viết bao nhiêu lần đơn ly hôn. Nên nay cô C làm đơn, thì tôi cũng để tùy cho pháp luật giải quyết, vì cháu Lộc hiện tại không có mặt ở nhà, cháu đi làm ăn nhưng không cho tôi biết là làm ăn cụ thể ở đâu, chỉ thi thoảng về thăm con và gia đình. Còn chị C thì đã vô Tây nguyên sinh sống và làm ăn. Các giấy tờ tố tụng đề nghị giao lại cho gia đình, tôi sẽ có trách nhiệm giao lại cho anh L được biết.

Về con: Vợ chồng có hai con chung là cháu Lê Quang H- sinh ngày 27/8/2010, hiện nay đang ở với bố và ông bà nội, còn cháu thứ hai là Lê Huyền T, sinh ngày 25/11/2014, hiện nay cháu đang ở với mẹ. Nếu vợ chồng chị C ly hôn, thì theo như nguyện vọng của bố cháu, muốn được để các cháu sống như hiện nay, là cháu H để cho anh L nuôi, còn chị C nuôi cháu HT.

Tại bản khai cùng ngày 11/6/2018, cháu Lê Quang H xin được ở với bố và ông bà nội.

Sau khi được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thông qua gia đình anh L đã biết được nội dung, thời gian, địa điểm làm việc của tòa án nhưng không đến tham gia phiên tòa, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa ngày 21/6/2018. Lần triệu tập này anh L tiếp tục không có mặt. Chị C làm đơn xin được xét xử vắng mặt, nên HĐXX xử vắng mặt cả hai bên đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài lỉệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Lê Quang L là bị đơn trong vụ án này, chị được biết nguyên đơn là chị Trương Thị C làm đơn khởi kiện xin ly hôn anh tại TAND huyện Hoằng Hóa, nhưng anh không có mặt và không cho Tòa án biết địa chỉ cụ thể để làm việc mà thông qua gia đình, anh xin được giải quyết vắng mặt. Mẹ đẻ của anh đề nghị được nhận thay anh toàn bộ các văn bản tố tụng để giao lại cho anh được biết nội dung và thời gian làm việc của Tòa án , Tòa án nhận định bị đơn biết rõ nội dung khởi kiện của nguyên đơn nhưng cố tình dấu địa chỉ.

Tại phiên tòa ngày 21/6/2018, chị Anh L được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng không có mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 HĐXX hoãn phiên tòa; Tại phiên tòa hôm nay, anh L tiếp tục vắng mặt, chị Chiên có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX cứ điểm b khoản 2 Điều 227, 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xử vắng tất cả các đương sự.

Về nội dung:

Về Hôn nhân: Chị Trương Thị C và anh Lê Quang L kết hôn tự nguyện, được cấp giấy CNĐKKH như vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Do anh L sa vào tệ nạn xã hội, chị C khuyên bảo anh không nghe, nên vợ chồng bất hòa, thường xuyên cãi vã, sau mỗi lần cãi vã hai bên đều tính đến chuyện ly hôn. Sau một thời gian dài ly thân chị C xét thấy không thể hàn gắn được nên làm đơn ly hôn anh L. Xét thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên xử để chị C ly hôn anh L là phù hợp.

Về con: Công nhận vợ chồng có hai con chung là cháu Lê Quang H- sinh ngày 27/8/2010, hiện nay đang ở với bố và ông bà nội, còn cháu thứ hai là Lê Huyền T, sinh ngày 25/11/2014, hiện nay cháu đang ở với mẹ. Cả hai đều có nguyện vọng để các cháu được sinh sống như lâu nay, nên giao cháu H cho anh L nuôi dưỡng, giao cháu HT cho chị C nuôi dưỡng.Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Miễn xét.

Về án phí: Chị Trương Thị C phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

Điều 51,56, 81,82,83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

*Xử

- Về hôn nhân: Chị Trương Thị C được ly hôn anh Lê Quang L.

- Về con: Công nhận vợ chồng có hai con chung là cháu Lê Quang H- sinh ngày 27/8/2010 và cháu Lê Huyền T - sinh ngày 25/11/2014. Giao cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu H, giao cho chị C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu HT.

Anh Lê Quang L và chị Trương Thị C được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung, không ai được cản trở. Nhưng anh L và chị C cũng không được lạm dụng quyền thăm nom con để gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con của nhau., Án phí: Chị Trương Thị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hoá theo biên lai thu số AA/2017/ 0002631 ngày 16/5/2018, chị đã thi hành xong.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án thì ng-ười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Trương Thị C và anh Lê Quang L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà án nhân dân Tỉnh

Thẩm phán - Chủ toạ phiên Toà

- Viện kiểm sát HH

đã ký

- Thi hành án HH

- UBND xã Hoằng Lộc, xã IAĐAL

- Lưu hồ sơ

Lê Thị Phƣơng Thanh

Cỡ chữ