vanban.org

Bản án 183/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 30/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Bá Gi phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Vũ Bá Gi 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02-6-2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Bá Giang - TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Bá Gi phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2023/HSST
Ngày: 30-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Công Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vương Thị Minh Tân

2. Ông Lê Quang Bảo

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 155/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Vũ Bá Gi, sinh năm 1977; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi sinh: Tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ1, huyện V, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 0/12; con ông: Vũ Bá H (Đã chết), con bà: Nguyễn Thị S (Đã chết); gia đình có 03 chị em bị cáo là con thứ ba; Vợ: Phạm Thị Th, sinh năm 1990 và có 01 con; tiền án: Bản án số 03/2015/HSST ngày 30-01-2015 Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”; tiền sự: Ngày 02-2-2023, Công an thành phố N xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; Nhân thân: Ngày 29-8-1994, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Ngày 13-6-1995, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, Ngày 05-11-1996, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Hà xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Ngày 10-3-1999, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Ngày 18-6-2001, Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Ngày 12-5-2004, Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Ngày 24-4-2009, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02-6-2023 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; (Có mặt).

Bị hại:

1. Anh Trần Nhật H, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn 7, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam (Vắng mặt).

2. Ông Trần Văn X, sinh năm 1967; nơi cư trú: Số 03 đường V, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định (Vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Minh Q, sinh năm 1982, trú tại tổ dân phố Đoài 1, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 25-5-2023, Vũ Bá Gi đi đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, ở số 2 đường Tr, phường Ng, thành phố N, tỉnh Nam Định nhằm tìm kiếm sơ hở của người dân để trộm cắp tài sản. Gi đi vào buồng bệnh số 103, nhà số 20 Khoa Thần kinh thì phát hiện chiếc điện thoại Sam sung S22 Ultra, màu đen của ông Phạm Văn X, sinh năm 1967, trú tại: số 3 đường Văn Tiến Dũng, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định đang để trên ghế nhựa màu đỏ cạnh đầu giường bệnh số 2 còn ông X đang nằm ngủ tại giường bệnh số 2, không có người trông coi nên Gi đã lấy trộm chiếc điện thoại cất giấu vào túi quần phía trước bên phải rồi đi sang các buồng bệnh khác, tiếp tục tìm kiếm tài sản để trộm cắp.

Khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, Vũ Bá Gi đi đến buồng bệnh B, nhà số 7 Khoa Da liễu, Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định, thấy cửa khép hờ. Gi phát hiện chiếc điện thoại Sam sung M20, ốp lưng màu đen của anh Trần Nhật H, sinh năm 1981, trú tại thôn 7, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam đang để trên giường bệnh số 11 còn anh H đang nằm ngủ trên giường, Gi đã lấy trộm chiếc điện thoại Sam sung M20 của anh H rồi nhanh chóng rời khỏi hiện trường.

Sau khi lấy trộm được 02 chiếc điện thoại nêu trên, Gi mang về nhà kiểm tra phát hiện phía trong ốp lưng chiếc điện thoại Sam sung M20 có 01 thẻ căn cước công dân; 01 thẻ ngân hàng (Gi không biết chữ nên không biết 02 thẻ trên mang tên ai) và số tiền 1.000.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng).

Khoảng 08 giờ ngày 26-5-2023, Gi mang 02 chiếc điện thoại trên đi bán. Khi đi qua cầu An Duyên, xã Đại An, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, Gi đã vứt xuống sông 02 chiếc sim điện thoại, 01 thẻ căn cước công dân, 01 thẻ ngân hàng, sau đó đi đến cửa hàng điện thoại M, địa chỉ: 1414 đường Tr, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định. Tại đây, Gi nói dối 02 chiếc điện thoại là tài sản của mình và bán hai chiếc điện thoại này cho chủ cửa hàng là anh Trần Minh Q, sinh năm 1982, trú tại tổ dân phố Đoài 1, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định chiếc điện thoại Sam sung S22 Ultra với giá là 3.000.000 đồng, chiếc điện thoại Sam sung M20 với giá là 1.000.000 đồng. Số tiền bán điện thoại và 1.000.000 đồng trong ốp điện thoại của anh H, Gi đã tiêu xài hết.

Sau khi bị mất điện thoại, ông Phạm Văn X và anh Trần Nhật H đã đến Công an phường Ng, thành phố N trình báo.

Ngày 01-6-2023, Vũ Bá Gi đã đến trụ sở Công an phường Ng, thành phố N đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản.

Anh Trần Minh Quân đã đến Cơ quan điều tra giao nộp chiếc điện thoại Sam sung S22 Ultra và chiếc điện thoại Sam sung M20 mua của Gi, anh Quân khai không biết đây là tài sản do Gi phạm tội mà có.

Kết luận định giá tài sản số 23 ngày 06-6-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận: chiếc điện thoại Sam sung S22 Ultra, đã qua sử dụng, có giá trị là 14.000.000 đồng; chiếc điện Sam sung M20, đã qua sử dụng, có giá trị là 1.300.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại Sam sung S22 Ultra cho ông Phạm Văn X, trả lại chiếc điện thoại Sam sung M20 cho anh Trần Nhật H.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Văn X, anh Trần Nhật H và anh Trần Minh Q không yêu cầu Vũ Bá Gi phải bồi thường gì cho mình.

Bản cáo trạng số 174/CT-VKSTPNĐ ngày 20-7-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Vũ Bá Gi về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây được viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Bá Gi khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên toà, luận tội và tranh luận: Giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Bá Gi phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS: Xử phạt bị cáo Vũ Bá Gi từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vấn đề dân sự: Không xem xét giải quyết

Bị cáo Vũ Bá Gi không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Do thiếu hiểu biết mà phạm tội nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Bá Gi tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ 23 giờ 30 phút đến 23 giờ 45 phút ngày 25-5-2023 tại buồng bệnh số 103, nhà số 20 Khoa Thần kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định Vũ Bá Gi đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Phạm Văn X 01 chiếc điện thoại di động Sam sung S22 Ultra trị giá 14.000.000 đồng; tại buồng bệnh B, nhà số 7 Khoa Da liễu, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định Vũ Bá Gi đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Trần Nhật H 01 chiếc điện thoại di động Sam sung M20 trị giá 1.300.000 đồng và 1.000.000 đồng tiền mặt. Tổng giá trị tài sản bị cáo Gi đã chiếm đoạt là 16.300.000 đồng. Hành vi của bị cáo Vũ Bá Gi đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện vì mục đích tư lợi, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS, nên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là đúng pháp luật.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Vũ Bá Gi đã thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo đã 01 lần bị kết án chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Bá Gi gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N, bị cáo có nhân thân rất xấu có tiền án, 01 tiền sự bị xử phạt hành chính và 06 lần bị kết án (Đã được xóa án tích), 01 lần bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính (Đã được xóa tiền sự). Lần phạm tội này bị cáo đã trộm cắp 02 chiếc điện thoại tổng tài sản chiếm đoạt là 16.300.000 đồng. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo cũng như góp phần phòng ngừa chung nên quan điểm của Kiểm sát viên là tương đối phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Đối với anh Trần Minh Q không biết 02 chiếc điện thoại di động là do Vũ Bá Gi trộm cắp được mà có nên cơ quan điều tra công an thành phố N không tiến hành xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Về bồi thường dân sự: Ông Phạm Văn X, anh Trần Nhật H và anh Trần Minh Q không yêu cầu Vũ Bá Gi phải bồi thường, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Vũ Bá Gi bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Bá Gi phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS;

Xử phạt bị cáo Vũ Bá Gi 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02-6-2023.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Vũ Bá Gi phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng)

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Vũ Bá Gi có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và anh Trần Minh Q có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ