- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ TPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình M và Hà Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
- Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 183/2023/HSST Ngày 01 tháng 11 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Lưu
Ông Phùng Ngọc Toàn
Thư ký phiên tòa: Bà Đồng Minh Hoàn – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 01 tháng 11 năm 2023, tại Phòng xét xử trực tuyến điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu Thành phần tại Trại giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 168/2023/TLST- HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 393/2023/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 đối với:
1. Họ và tên: Hoàng Đình M, Sinh năm: 1995; HKTT: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh V; Nơi ở: Không cố định tại Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Hoàng Ngọc L (Đã mất); Con bà: Tạ Thị K; Tiền án, tiền sự: không; Danh chỉ bản số 238 do Công an quận Ba Đình lập ngày 14.06.2023; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 13/06/2023; Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại Phòng xét xử trực tuyến - Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố Hà Nội. 2. Họ và tên: Hà Văn Sơn, Sinh năm: 2003; HKTT: Bản N, xã K, T, L; Nơi ở: Không cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Hà Văn K; Con bà: Hà Thị P; Tiền án, tiền sự: Không; Danh chỉ bản số 239 do Công an quận Ba Đình lập ngày 14.06.2023; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 13/06/2023; Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại Phòng xét xử trực tuyến - Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 45’ ngày 13/6/2023, Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm
về ma túy - Công an quận Ba Đình làm nhiệm vụ tuần tra địa bàn, khi đi đến khu vực tại ngã ba Ngọc Khánh - Kim Mã, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội phát hiện Hoàng Đình M và Hà Văn S có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện tại túi quần trước bên phải Hoàng Đình M có 01 gói giấy trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, M và S khai nhận đó là ma túy Hêrôin do cả hai góp tiền mua về để sử dụng chung. Tổ công tác đã đưa M và S cùng tang vật về trụ sở để làm rõ.
Tổ công tác đã thu giữ của Hoàng Đình M: 01 điện thoại Nokia màu xanh đã
qua sử dụng; 01điện thoại di động Mobistar màu vàng (bị hỏng màn hình không lên); Số tiền: 123.000 đồng (một trăm hai mươi ba nghìn đồng).
Cơ quan điều tra đã thu giữ của Hà Văn S; 01 điện thoại di động Vivo màu
xanh đã cũ thu tại túi quần trước bên trái, có số sim: 0928667593. Số imei: 862440040964997; Số tiền: 113.000 đồng (một trăm mười ba nghìn đồng).
Tại Bản kết luận giám định số 3982/KL-KTHS ngày 21 tháng 06 năm 2023
của Phòng kỹ thuật hình sự - CATP Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy, khối lượng 0,217 gam là ma túy loại Hêrôin”.
Quá trình điều tra, xác định được như sau: Khoảng 10 giờ 40’ngày
13/06/2023, M đang ở khu vực phố Nhà Hỏa, Hoàn Kiếm, Hà Nội thì có Hà Văn S gọi điện từ số điện thoại 0928667593 đến số điện thoại của M là 0982251864, rủ M góp tiền để đi mua ma túy heroin về để sử dụng cùng nhau. M đồng ý và hẹn gặp S ở khu vực vườn hoa Lê Nin. Khoảng 12 giờ, M đi xe buýt ra khu vực vườn hoa Lê Nin và gặp S. M và S cùng đi xe buýt đến khu vực Kim Mã để tìm mua heroin. Đến ngã ba phố Kim Mã - Ngọc Khánh, 2 người xuống xe buýt. Tại đây, S đưa cho M 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) để góp tiền mua 01 gói hêrôin với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). M cầm 100.000 đồng của S và bảo S đứng chờ tại khu vực ngã ba Kim Mã - Ngọc Khánh, còn M đi bộ một mình đến khu vực ngã ba phố Ngọc Khánh - Nguyễn Công Hoan gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói hêrôin với giá 200.000 đồng. Mua xong, M cất gói hêrôin bọc giấy màu trắng vào túi quần phía trước bên phải rồi đi bộ về gặp S để cùng nhau tìm nơi sử dụng ma túy. Khi M gặp S tại khu vực ngã ba Ngọc Khánh - Kim Mã thì bị Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an quận Ba Đình kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Đối với đối tượng bán ma tuý cho Hoàng Đình M, quá trình điều tra không
xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
Tại bản cáo trạng số: 159/CT-VKSBĐ ngày 02/10/2023 của Viện kiểm sát
nhân dân quận Ba Đình đã truy tố Hoàng Đình M và Hà Văn S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo qui định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ nguyên quan
điểm truy tố tại bản cáo trạng số: 159/CT-VKSBĐ ngày 02/10/2023, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 47
Bộ luật hình sự đề nghị:
Xử phạt bị cáo Hoàng Đình M từ 15 đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép
chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù ngày 13/06/2023
Xử phạt bị cáo Hà Văn S từ 15 đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất
ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù ngày 13/06/2023
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo;
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ và tịch thu 02
điện thoại và trả lại cho bị cáo M 01 điện thoại, trả lại số tiền mặt thu giữ của 02 bị cáo và tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Đình M và Hà Văn S đã khai nhận toàn bộ
hành vi của mình và lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận
Ba Đình, thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với
vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ 13/06/2023, M và S góp tiền mua hêrôin ở khu vực ngã ba phố Kim Mã - Ngọc Khánh để cùng nhau sử dụng. Sau khi M mua dược 0,217 gam chất ma túy loại Hêrôin đang quay lại nơi S đứng chờ thì bị Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an quận Ba Đình kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo M và S đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố Hoàng Đình M và Hà Văn S theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo : Các bị cáo
không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4]. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo : Bị cáo Hoàng
Đình M và Hà Văn S đều chưa có tiền án tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều có thái độ hợp tác, khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình nên cần xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về vai trò của các bị cáo và áp dụng mức hình phạt: Trong vụ án này, Hà
Văn S là người khởi sướng, Hoàng Đình M là người trực tiếp thực hiện việc đi mua ma túy về để sử dụng cùng S nên xác định vai trò phạm tội của các bị cáo trong vụ án là ngang nhau. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm, tạo nên sự bất ổn định của tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn.
[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định
nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại Khoản 5, Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với số ma túy thu giữ của các bị cáo là 0,217 gam Hêrôin là vật cấm
tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại Nokia màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo M ;
01 điện thoại di động Vivo màu xanh đã cũ có số sim: 0928667593 thu giữ của bị cáo S và 01 điện thoại di động Mobistar màu vàng (bị hỏng màn hình không lên) thu giữ của bị cáo M và Đối với số tiền 123.000 đồng thu giữ của bị cáo M và số tiền 113.000 đồng thu giữ của bị cáo S cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điểm c, Khoản 1, Điều 249; Điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51;
Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình M và Hà Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Đình M 15( Mười lăm) tháng tù.Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày 13/06/2023.
Xử phạt bị cáo Hà Văn S 15(Mười lăm) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày 13/06/2023.
Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 2, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 0,217 gam Hêrôin đã qua giám định có chữ ký của giám
định viên và các bị cáo M, S. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Nokia màu xanh đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Vivo màu xanh đã cũ và 01 điện thoại di động Mobistar màu vàng (bị hỏng màn hình không lên); Số tiền 123.000 đồng thu giữ của bị cáo M và số tiền 113.000 đồng thu giữ của bị cáo S tịch thu sung quỹ Nhà nước. Theo biên bản bàn giao vật chứng số 26 ngày 01/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội và Giấy nộp tiền vào tài khoản Chi cục Thi hành án quận Ba Đình ngày 16/10/2023 tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.
* Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và
lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Các Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1, khoản 4, Điều 331 và Điều 333 Bộ
luật Tố tụng Hình sự 2015;
Các Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời
hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -TAND TP thành phố Hà Nội; -VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Ba Đình; - Công an quận Ba Đình; - Chi cục THADS quận Ba Đình; - UBND xã Bắc Bình, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc ; UBND xã Khoen On, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu; - Trại tạm giam số 1 Hà Nội; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI BIÊN BẢN NGHỊ ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI Vào hồi giờ 00 phút, ngày 27 tháng 10 năm 2023 tại phòng nghị án Điểm cầu trung tâm tại Phòng xét xử trực tuyến - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phùng Ngọc Toàn 2. Ông Trần Đức Lưu Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 168/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo: 1. Họ và tên: Hoàng Đình Minh, Sinh năm: 1995; HKTT: Thôn Bình Long, xã Bắc Bình, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi ở: Không cố định tại Hà Nội; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 13/06/2023; Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại Phòng xét xử trực tuyến - Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố Hà Nội. 2. Họ và tên: Hà Văn Sơn, Sinh năm: 2003; HKTT: Bản Mùi 1, xã Khoen On, Than Uyên, Lai Châu; Nơi ở: Không cố định; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 13/06/2023; Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại Phòng xét xử trực tuyến - Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố Hà Nội. Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: 1. Về tội danh và hình phạt: 51; Điều 38; Bộ luật hình sự 2015. túy”. phạt tù tính từ ngày 13/06/2023. tù tính từ ngày 13/06/2023. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý. Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Tịch thu tiêu hủy 0,217 gam Hêrôin đã qua giám định có chữ ký của giám định viên và các bị cáo M, S. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Nokia màu xanh đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Vivo màu xanh đã cũ và 01 điện thoại di động Mobistar màu vàng (bị hỏng màn hình không lên); Số tiền 123.000 đồng thu giữ của bị cáo M và số tiền 113.000 đồng thu giữ của bị cáo S tịch thu sung quỹ Nhà nước. Theo biên bản bàn giao vật chứng số 26 ngày 01/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội và Giấy nộp tiền vào tài khoản Chi cục Thi hành án quận Ba Đình ngày 16/10/2023 tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý. phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý. * Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1, khoản 4, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 27/10/2023). Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý. Biên bản lập xong đã thông qua Hội đồng xét xử, công nhận đúng và ký tên. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thuý Hạnh CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Căn cứ vào Điểm c, Khoản 1, khoản 5, Điều 249; Điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều - Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình M và Hà Văn S phạm tội “Tàng Trữ trái phép chất ma Xử phạt bị cáo Hoàng Đình M 15 (Mười lăm) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình Xử phạt bị cáo Hà Văn S 15 (Mười lăm) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt 2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 2, * Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |