- Tranh chấp gì? án hình sự — "GIÀNG A CH -TRỘM CẮP TÀI SẢN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng A Ch phạm các tội: Trộm cắp tài sản V tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SLA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 183/2023/HSST Ngày 31 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SLA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Vân; ông Quàng Văn Tiện
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang H - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh SLa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh SLa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 168/2023/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Giàng A Ch, sinh năm 1992, tại huyện Sông M, tỉnh Sơn La;
Nơi cư trú: Bản Ngu H, xã Nà Ng, huyện Sông M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Giàng Nhịa P và bà Sùng Thị Ch (đều đã chết); bị cáo có vợ là Sộng Thị S (đang sống ly thân) V 04 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/5/2023 cho đến nay; có mặt.
* Bị hại:
1. Anh Lò Văn S, sinh năm 2002; trú tại: Bản Tông H, xã Mường V, huyện Sốp C, tỉnh Sơn La, vắng mặt.
2. Anh Giàng A H, sinh năm 2004; nơi cư trú: Bản Ngu H, xã Nà Ng, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, vắng mặt.
2. Anh Sộng A D, sinh năm 1996; nơi cư trú: Bản Pá C, xã Huổi M, huyện Sông M, tỉnh SLa, vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1978; nơi cư trú: Bản Hoàng M, xã Chiềng Kh, huyện Sông M, tỉnh SLa, vắng mặt
2. Anh Lò Văn M, sinh năm 2002; nơi cư trú: Bản Nà N, xã Mường H, huyện Sông M, tỉnh Sơn La, vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án V diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Khoảng 08 giờ ngày 30/3/2023 Giàng A Ch đi bộ từ nhà ở bản Ngu H, xã Nà Ng đến nhà chú là Giàng Pó Ch, sinh năm 1972 ở bản Xia K, xã Mường C, huyện Sông Mã, khi đến nhà thấy ông Ch chuẩn bị đi chăn bò nên Ch đã ở lại bếp để trông nhà. Khoảng 12 giờ cùng ngày khi Ch đang ở bếp thì nghe thấy tiếng xe mô tô đến nhà, rồi một nam thanh niên mở cửa bếp đi vào, qua nói chuyện người này giới thiệu tên là S nhà ở huyện Sốp Cộp. Khi S và Ch đang nói chuyện thì ông Ch đi chăn bò về, sau đó ông Ch nói đi hái măng về làm cơm trưa, lúc này Ch nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô của S đem bán lấy tiền tiều xài cá nhân, nên Ch nói với S là mượn xe mô tô để đi mua nước uống thì S đồng ý. Ch ra điều khiển xe mô tô đi cách nhà khoảng 50m thì gặp ông Ch đi hái măng về, Ch hỏi thì Ch trả lời là đi mua nước về uống. Sau đó Ch điều khiển xe mô tô theo hướng bản Phiêng Piềng, Mường Cai, huyện Sông Mã về bản Huổi Ái, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp và đi theo đường quốc lộ 4G về huyện Sông Mã. Khi về đến khu vực xã Huổi Một, huyện Sông Mã thì xe hết xăng nên Ch dựng xe ở đường và ngủ qua đêm, sáng ngày 31/3/2023 Ch dắt xe mô tô đến bản Hoàng Mã, xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã gặp V bán cho anh Lò Văn M, sinh năm 2002 đang làm thuê ở kho thu mua phế liệu với số tiền 1.500.000 đồng, khi mua bán Ch nói là xe của Ch.
Ngày 03/4/2023 anh Lò Văn S có đơn đề nghị gửi đến Công an xã Mường Cai, huyện Sông Mã để xác M, giải quyết. Xét thấy, vụ việc có dấu hiệu tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngày 06/4/2023 Công an xã Mường Cai, huyện Sông Mã chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 17/4/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã, trưng cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave biển kiểm soát 26B1 – 668.46.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 10/KL ngày 26/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sông Mã, kết luận: “01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, màu SĐỏ - Đen - Bạc, biển kiểm soát 26B1– 668.46, xe đã qua sử dụng; Trị giá 6.000.000 đồng”.
Ngày 15/5/2023 Giàng A Ch đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đầu thú về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Lò Văn S V giao nộp 01 ví giả da màu đen, bên trong có 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1 đều mang tên Giàng A H, là giấy tờ mà Ch thực hiện một vụ trộm cắp xe mô tô khác mà có. Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã ra Quyết định tạm giữ đối với Giàng A Ch.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác M, triệu tập anh Lò Văn M, sinh năm 2002 trú tại bản Nà Ng, xã Mường Hg, huyện Sông M (đang làm thuê cho chị Nguyễn Thị H ở bản Hoàng M, xã Chiềng Kh) đến để làm việc, anh M khai nhận đã mua chiếc xe mô tô từ Giàng A Ch, khi mua bán xe Ch nói xe bị mất giấy tờ nhưng gia đình có việc cần tiền gấp nên cần bán xe V không cho M biết đó là xe do lừa đảo chiếm đoạt mà có. Đồng thời, M đã giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu đen, biển kiểm soát 26B1– 668.46. Ngày 19/6/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu hợp pháp Lò Văn S.
Kết quả xác định, khám nghiệm hiện trường lập Vo hồi 09 giờ ngày 12/4/2023: Hiện trường được xác định là khu nhà bếp V sân nhà của ông Giàng Pó Ch, sinh năm 1978 trú tại bản Xia K, xã Mường C, huyện Sông M. Hướng Đông tiếp giáp đường Vo trung tâm bản, phía Tây V phía Bắc tiếp giáp ta luy âm; phía Nam tiếp giáp đường đi trung tâm UBND xã Mường Cai. Vị trí dựng xe mô tô là sân trước nhà, đầu quay hướng Đông, xe cách góc nhà phía Tây – Bắc 2,60m. Vị trí bị can Ch khai nhận lấy chiếc xe mô tô phù hợp với hiện trường V lời khai người bị hại Lò Văn Sơn.
Vụ trộm cắp tài sản thứ nhất: Khoảng 09 giờ ngày 03/5/2023 Giàng A Ch đi bộ từ nhà ra nhà anh Giàng A H là người cùng bản, do thấy không có ai ở nhà nên Ch nảy sinh ý định Vo nhà để trộm cắp tài sản. Ch quay về lấy một con dao quắm dài khoảng 50cm, đi vòng ra góc chái nhà của anh H rồi chèo lên ngồi ở một tH gỗ đựng thóc, dùng mũi dao cậy hai tấm ván ra, rồi chui Vo trong nhà. Ch Vo trong nhà phát hiện một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade biển kiểm soát 26C1 – 199.87 đang dựng trên nền gian chính trong nhà, đầu quay ra ngoài cửa, chìa khoá vẫn cắm ở ổ khoá điện. Ch đi tiếp ra phía bếp thì thấy 01 điện thoại Iphone 7plus V 01 điện thoại Redmi 9A đang cắm sạc pin để ở bàn, Ch rút cả hai điện thoại ra cho Vo túi quần đang mặc rồi đi Vo trong gian bếp thì thấy một túi vải màu đen treo ở cột nhà, mở ra kiểm tra bên trong có 01 ví giả da, Ch cho ví Vo túi quần rồi cầm theo túi vải màu đen đi ra chỗ dựng xe mô tô, dắt xe ra ngoài V điều khiển đi theo hướng thị trấn Sông Mã. Ch điều khiển xe mô tô đến đường tỉnh lộ 113, đoạn giáp bờ rào nhà ông Là Đức Khổng ở bản Mung, xã Nà Ng, Sông Mã thì dừng xe lại lấy ví ra kiểm tra bên trong có số tiền 300.000 đồng; 01 giấy phép lái, 01 căn cước công dân đều mang tên Giàng A H, bên trong túi vải không có tài sản gì. Sau đó, Ch vứt túi vải đi, cho chiếc ví có tiền, căn cước V giấy phép lái xe Vo túi quần rồi điều khiển xe mô tô đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa huyện Sông Mã V bán 02 chiếc điện thoại cho một người đàn ông không quen biết với số tiền 350.000 đồng. Bán điện thoại xong, Ch điều khiển xe mô tô xuống kho thu mua phế liệu của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1978 ở bản Hoàng M, xã Chiềng Kh, huyện Sông Mã V bán chiếc xe với số tiền 1.500.000 đồng. Khi mua bán Ch không nói cho H biết là xe do trộm cắp mà có.
Ngày 08/5/2023 anh Giàng A H có đơn trình báo gửi đến Công an xã Nà Ng, huyện Sông Mã đề nghị xác M, giải quyết. Xét thấy vụ việc có dấu hiệu tội Trộm cắp tài sản, do đó cùng ngày Công an xã Nà Ng đã củng cố tài liệu V chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 09/5/2023 Cơ quan điều tra đã tiến hành xác M, triệu tập Nguyễn Thị H, sinh năm 1978 trú tại bản Hoàng M, xã Chiềng Kh, huyện Sông M đến để làm việc, chị H khai nhận ngày 03/5/2023 đã mua chiếc xe mô tô từ Giàng A Ch, khi mua bán xe Ch giới thiệu nhà ở xã Phiêng Cằm, huyện Mai Sdo gia đình có việc nên cần tiền V không cho Hưng biết đó là xe do trộm cắp mà có. Chị H đã quay lại video trong quá trình trao đổi, mua bán xe, đến tối cùng ngày khi thấy có người đăng tin lên mạng xã hội Facebook tìm chiếc xe có đặc điểm giống với chiếc xe chị đã mua nên chị đã liên lạc với người này. Ngày 09/5/2023 chị H giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade biển kiểm soát 26C1 – 199.87. Ngày 19/6/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu hợp pháp là Giàng A H.
Ngày 15/5/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã tiến hành trưng cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade biển kiểm soát 26C1 – 199.87; 01 điện thoại Iphone 7plus; 01 ốp điện điện V 01 điện thoại Redmi, loại 9A.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 15/KL ngày 18/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sông Mã, kết luận:
“1. 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Blade, màu Sxanh – đen, biển kiểm soát 26C1 – 199.87, xe đã qua sử dụng; Trị giá 10.000.000 đồng.
2. 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, loại 7 plus, vỏ màu đen, đã qua sử dụng; Trị giá: 2.000.000 đồng.
3. 01 ốp lưng của Iphone, loại 7 plus, bằng nhựa có hình Doremon, màu xanh dương, đã qua sử dụng; Trị giá: 0 đồng.
4. 01 điện thoại di động hiệu Redmi, loại 9A, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng; Trị giá 500.000 đồng. Tổng cộng: 12.500.000 đồng”.
Ngày 02/6/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã tiến hành trưng cầu định giá tài sản đối với 01 túi đeo chéo bằng vải màu đen mua năm 2022 V 01 ví giả da màu đen mua năm 2023.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 19/KL ngày 09/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sông Mã, kết luận:
“1. 01 (một) túi đeo chéo bằng vải màu đen, mặt ngoài có dòng chữ “MRMI LEISURE” mua V sử dụng từ tháng 10 năm 2022 với giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng chẵn), đã bị đứt dây đeo; Trị giá: 0 đồng.
2. 01 (một) ví giả da màu đen, loại gập ngang, mặt ngoài có dòng chữ “Pedro” mua V sử dụng từ tháng 02 năm 2023 với giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng chẵn); Trị giá: 50.000 đồng.”
Tổng giá trị tài sản trong vụ trộm cắp này là 12.550.000 đồng.
Kết quả xác định, khám nghiệm hiện trường lập Vo hồi 15 giờ ngày 08/5/2023: Được xác định là nhà của chị Hờ Thị Dh, sinh năm 1982 trú tại bản Ngu H, xã Nà Ng, huyện Sông Mã. Phía Đông tiếp giáp vườn ông L; phía Tây tiếp giáp với đất V nhà bị can Ch; phía Nam tiếp giáp với đường đi Vo bản Ngu H; phía Bắc tiếp giáp vườn cây ông P. Nhà gỗ, được xây dựng theo kiểu nhà cấp bốn, nền bê tông với diện tích 17,60x7,80m; 02 tấm ván ở vách nhà phía Bắc bị bung rời khỏi vị trí ban đầu. Nhà có gian bếp ở phía Nam, thông với nhau bằng một cửa gồm hai cánh, cách cửa về hướng Đông Bắc có một cột giữa nhà. Bên trong nhà có kê 02 giường gỗ ở hướng Tây Bắc V Đông Nam; tiếp giáp về phía Đông Nam kê 01 chiếc tủ gỗ kích thước 1,90x2,20x0,40m. Bị can Giàng A Ch khai nhận vị trí lấy chiếc xe mô tô dựng trong nhà; điện thoại V chiếc túi đeo có ví giả da bên trong phù hợp với lời khai người bị hại Giàng A H.
Quá trình xác M, điều tra Cơ quan CSĐT đã tiến hành thu giữ 01 con dao quắm dài 56cm V truy tìm 01 túi vải đeo chéo màu đen, nhưng không tìm thấy.
Vụ trộm cắp tài sản thứ hai: Khoảng 06 giờ ngày 10/5/2023 Giàng A Ch một mình đi bộ từ nhà ở bản Ngu H, xã Nà Ng đến bản Xia Kia, xã Mường Cai, huyện Sông Mã để tìm gặp vợ V con trai, do vợ đã đưa con trai bỏ về nhà bố mẹ vợ ở bản Xia K. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì Ch đến bản Xia K, do trời tối nên Ch Vo lán ao của anh Sộng Bả L, sinh năm 1986 (anh trai vợ của Ch) để ngủ qua đêm. Ngày 11/5/2023 Ch ở lán ao đợi xem có thấy vợ V con trai ra cho cá ăn không để gặp nhưng không thấy, khoảng 17 giờ cùng ngày Ch thấy anh Sộng A D, sinh năm 1996 hiện đang ở bản Pá C, xã Huổi M (em trai vợ của Ch) điều khiển xe mô tô đến lán ao, do sợ bị phát hiện nên Ch đã trốn lên khu nương sắn sau lán để trốn, Ch quan sát thấy anh D Vo lán ao rồi cởi quần dài để lên ghế V đi xuống ao bắt cá, thấy anh D đã xuống ao nên Ch nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của anh D, Ch xuống lán V lục trong túi quần của D để trên ghế phát hiện chiếc ví giả da, bên trong có một cọc tiền nên Ch đã rút ra V để lại chiếc quần với ví trên ghế như ban đầu. Ch quay lại nương sắn đếm số tiền được 6.000.000 đồng, gồm 10 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 10 tờ mệnh giá 100.000 đồng. Ch đã ngủ qua đêm tại nương sắn đến ngày 12/5/2023 Ch đi bộ về bản Ngu H, xã Nà Ng, huyện Sông Mã. Số tiền lấy được Ch đã chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 12/5/2023 anh Sộng A D có đơn trình báo đến Công an xã Mường Cai, huyện Sông Mã đề nghị xác M, giải quyết. Cùng ngày Công an xã Mường Cai đã củng cố tài liệu V chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã để giải quyết theo thẩm quyền.
Kết quả xác định, khám nghiệm hiện trường lập Vo hồi 14 giờ ngày 03/6/2023: Được xác định là lán ao của anh Sộng Bả L, sinh năm 1986 trú tại bản Xia K, xã Mường C, huyện Sông M. Phía Đông tiếp giáp ta luy dương, phía Tây V phía Bắc tiếp giáp đường dân sinh, phía Nam tiếp giáp với ao V nương sắn của anh L. Lán nương có diện tích 05x05m, được dựng bằng gỗ, phía Nam có mái hiên nhìn ra ao, có ghế ngồi là vị trí anh D để chiếc quần bên trong túi có chiếc ví giả da. Bị can Giàng A Ch khai nhận vị trí lấy tiền từ trong ví để trong túi quần phù hợp với lời khai người bị hại Sộng A D.
Người bị hại Sộng A D khai nhận bị mất số tiền khoảng 10.000.000 đồng, tuy nhiên không có căn cứ nào chứng M bị hại để tổng số tiền 10.000.000 đồng trong chiếc ví để trong túi quần. Quá trình điều tra không thu giữ được số tiền, mặt khác bị can Giàng A Ch khai nhận số tiền lén lút chiếm đoạt là 6.000.000 đồng. Do đó, không có căn cứ quy kết bị cáo lén lút chiếm đoạt số tiền 10.000.000 đồng của anh D.
Tổng giá trị tài sản mà Giàng A Ch chiếm đoạt ở hai vụ trộm cắp là 18.550.000 đồng.
Cáo trạng số: 118/CT-VKSSM ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử bị cáo Giàng A Ch về các tội: Trộm cắp tài sản V tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Giàng A Ch đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về các tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Giàng A Ch phạm các tội: Trộm cắp tài sản V tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Giàng A Ch từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản V từ 08 tháng đến 01 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt hình phạt chung cho cả hai tội.
Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Đề nghị miễn án phí cho bị cáo, do bị cáo là dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Bị cáo Giàng A Ch không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại: Anh anh Lò Văn S và anh Giàng A H đều đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Anh Sộng A D chưa nhận được bồi thường nhưng không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lò Văn M và chị Nguyễn Thị H chưa được bồi thường, nhưng đều không yêu bị cáo phải bồi thường.
Căn cứ vào các chứng cứ V tài liệu đã được thẩm tra V kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cở sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, ý kiến của các bị hại, ý kiến của những người liên quan, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ Vo các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra V tại phiên toà bị cáo, bị hại, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ chứng M hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 30/3/2023 tại bản Xia Kia, xã Mường Cai, huyện Sông Mã, Giàng A Ch đã đưa ra thông tin gian dối để anh Lò Văn Stin tưởng, giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave biển kiểm soát 26B1 – 668.46, trị giá 6.000.000 đồng cho Ch, sau đó Ch đã đem bán chiếc xe mô tô lấy tiền chi tiêu cá nhân. Ngày 03/5/2023 tại bản Ngu H, xã Nà Ng, huyện Sông Mã. Lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, Giàng A Ch đã bí mật, lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Blade, màu Sxanh – đen, biển kiểm soát 26C1 – 199.87, trị giá 10.000.000 đồng; 01 điện thoại Iphone, loại 7plus (kèm ốp), trị giá 2.000.000 đồng; 01 điện thoại Redmi, loại 9A, trị giá 500.000 đòng; 01 túi đeo chéo; 01 ví giả da V 300.000 đồng. Tổng trị giá là 12.850.000 đồng của anh Giàng A H ở bản Ngu H, xã Nà Ng, huyện Sông Mã đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Ngày 11/5/2023 tại bản Xia Kia, xã Mường Cai, huyện Sông Mã, Ch bí mật, lén lút chiếm đoạt số tiền 6.000.000 đồng của anh Sộng A D để chi tiêu cá nhân. Tổng giá trị tài sản trong hai lần trộm cắp tài sản là 18.850.000 đồng V giá trị tài sản thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là 6.000.000 đồng, nhằm mục đích chi tiêu cá nhân thì phát hiện.
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án V hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra V tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện V đúng với sự việc đã thực hiện. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người bị hại, lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; các biên bản khám nghiệm hiện trường; các Kết luận định giá tài của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sông Mã.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS V tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mà bị cáo Giàng A Ch thực hiện đã phạm các tội: Trộm cắp tài sản, tội phạm V hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm V tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Cả hai hành vi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của những người bị hại được pháp luật bảo vệ V xã hội lên án mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa pH. Do vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm M trước pháp luật nhằm răn đe phòng ngừa chung V cải tạo riêng.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là phạm tội 02 lần trở lên.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà V tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự ra đầu thú. Do đó cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Để trừng trị đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, cũng như công tác đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình V xã hội.
Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trong vụ án này bị cáo Giàng A Ch được hưởng lợi từ hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản V Trộm cắp tài sản với tổng số tiền là 9.650.000đ (chín triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng); trong đó số tiền 6.000.000đ trộm cắp của anh Sộng A D; tiền bán 02 chiếc xe mô tô 3.000.000đ; tiền bán 02 chiếc điện thoại di động 350.000đ; số tiền 300.000đ trộm cắp của anh Giàng A H), nên cần phải truy thu nộp Ngân sách Nhà nước.
Về các tình tiết, đối tượng liên quan:
- Đối với Lò Văn M là người đã mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave biển kiểm soát 26B1 – 668.46 từ bị cáo Giàng A Ch, nhưng giữa bị cáo Ch với anh M không hứa hẹn trước, việc mua bán diễn ra ban ngày, bản thân anh M không biết đó là tài sản do bị cáo Lừa đảo chiếm đoạt mà có. Anh Lò Văn M sau khi biết sự việc đã giao nộp lại chiếc xe mô tô cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã để phục vụ quá trình điều tra. Do đó, hành vi của anh M không đồng phạm với bị cáo Ch V không cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, quy định tại Điều 323 BLHS là có căn cứ, cần chấp nhận.
- Đối với Nguyễn Thị H là người đã mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade biển kiểm soát 26C1 – 199.87 từ bị cáo Giàng A Ch, nhưng giữa bị can Ch với chị H đều không hứa hẹn trước, việc mua bán diễn ra ban ngày, bản thân chị Hưng không biết đó là tài sản do bị can trộm cắp. Chị Nguyễn Thị H sau khi biết sự việc đã giao nộp lại chiếc xe mô tô cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã để phục vụ quá trình điều tra. Do đó, hành vi của chị H không đồng phạm với bị cáo Ch V không cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, quy định tại Điều 323 BLHS, là có căn cứ, cần chấp nhận.
- Đối với người đàn ông đã mua hai chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7plus V Redmi 9A từ bị cáo Giàng A Ch tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa huyện Sông Mã, do bị cáo không biết tên, tuổi V địa chỉ của người này nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã không có căn cứ để xác M, làm rõ trong vụ án này, là có căn cứ, cần chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh anh Lò Văn S đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave biển kiểm soát 26B1 – 668.46 do bị cáo Giàng A Ch đã chiếm đoạt V không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Bị hại anh Giàng A H đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade biển kiểm soát 26C1 – 199.87, các tài sản khác bị chiếm đoạt gồm 01 điện thoại Iphone 7plus V 01 điện thoại Redmi 9A V số tiền 300.000 đồng chưa được hoàn trả, nhưng anh H Giàng A H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Bị hại anh Sộng A D chưa được hoàn trả số tiền do bị cáo Giàng A Ch chiếm đoạt, nhưng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Những người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường và hoàn trả tài sản bị chiếm đoạt, nên HĐXX không xem xét.
Đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lò Văn M là người đã bỏ ra số tiền 1.500.000đ để chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave biển kiểm soát 26B1 – 668.46 do bị cáo Giàng A Ch đem bán; chị Nguyễn Thị H là người đã bỏ ra số tiền 1.500.000đ để mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade biển kiểm soát 26C1 – 199.87 do bị cáo Giàng A Ch đem bán. Nhưng anh M và chị H đều không yêu cầu bị cáo Ch phải hoản trả, nên HĐXX không xem xét.
Về vật chứng của vụ án: Vật chứng đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã gồm: 01 con dao quắm, có tổng chiều dài 56cm, phần lưỡi kim loại V cán gỗ đều dài 28cm là vật không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Vo khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Giàng A Ch phạm các tội: Trộm cắp tài sản V tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Xử phạt bị cáo Giàng A Ch 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản V 01 (một) năm tù về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là: 02 (hai) năm 08 (tám) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/05/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Truy thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền là 9.650.000đ (Chín triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) đối với bị cáo Giàng A Ch là khoản thu lợi bất chính do phạm tội mà có.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu hủy 01 con dao quắm, có tổng chiều dài 56cm, phần lưỡi kim loại, sắc một bên dài 28cm, mũi giao cong, cán gỗ đều dài 28cm, cán dao có nhiều vết nứt, trong đó có một vết nứt từ đầu cán dao đến phần liên kết với lưỡi dao dài 25,5cm, dao đã qua sử dụng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 14 giờ 00 phút ngày 13 tháng 7 năm 2023 giữa Công an huyện Sông Mã V Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.
3. Về án phí: Áp dung điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Bị cáo Giàng A Ch được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 31/8/2023); bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Bị hại; - VKS huyện Sông Mã; - Trại giam; - TAND tỉnh SLa; - Sở Tư pháp tỉnh SLa; - THAHS; - CCTHADS huyện Sông Mã; - Người có QLNVLQ; - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lô Văn Long |