vanban.org

Bản án 183/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 22/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trịnh Quốc Hx 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/02/2023.

Xử phạt bị cáo Ngô Minh H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Ngô Minh H cho Ủy ban nhân dân xã VT, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Quốc H và đồng phạm "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trịnh Quốc Hx 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/02/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N
NAM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2023/HS-ST
Ngày: 22 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Rực

Các Hội thẩm nhân dân:

. Ông Vũ Văn Nở.

. Ông Nguyễn Xuân Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thiệt- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 195/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 127//2023/HSST-QĐ ngày 14 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo: 1. Trịnh Quốc Hx; sinh năm 1990 tại Khánh Hòa; ĐKHKTT: 24 QT, phường PT, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Không xác định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D và bà Trịnh Thị Kim V, vợ Nguyễn Thị Thu H- sinh năm 2001, có 01 con sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 13/2008/HS-ST ngày 25/01/2008 của Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 30 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/3/2010 và các quyết định khác năm 2016. Bản án số 77/2012/HSST ngày 17/4/2012 của Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 07 năm 06 tháng tù và phạt bổ sung 10.000.000 đồng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/10/2017 và các quyết định khác năm 2017. Ngày 16/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố N có Quyết định khởi tố bị can số 74/ĐCSHS đối với Trịnh Quốc H về tội trộm cắp tài sản; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2023. Có mặt. 2. Ngô Minh H; sinh năm 1997 tại Khánh Hòa; ĐKHKTT: 53/15 NTT, phường LT, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Thôn VX, xã VT, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Huệ Tr-sinh năm 1974 và bà Lê Thị Tuyết M- sinh năm 1972, vợ Hồ Thị Bích T- sinh năm 1999, có 01 con sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/02/2023 đến ngày 22/02/2023, ngày 01/3/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Bị hại: Trần Thị S- sinh năm 1976; địa chỉ: 157/5 DHQ, phường VH, thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngô Huệ Tr- sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn VX, xã VT, thành phố N, Khánh Hòa. Có mặt.

- Người làm chứng: Trần Bá L- sinh năm 1978; địa chỉ: 85/54 đường PS, phường PS, thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ ngày 20/02/2023, Trịnh Quốc Hx và Ngô Minh H đang ngồi chơi game tại đường HVT, thành phố N thì có đối tượng tên Tý (là bạn của Hx chưa rõ lai lịch) và một nam thanh niên (không rõ lai lịch) điều khiển xe máy hiệu Future biển kiểm soát 79N2- 967.24 đến rủ Hx đi trộm cắp xe máy hiệu Honda SH Mode trên đường HHT thì Hx đồng ý và rủ H đi cùng. Lúc này, Tý và nam thanh niên điều khiển xe máy đi trước, H điều khiển xe máy hiệu Wave biển kiểm soát 79N2- 880.98 của H chở Hx theo sau. Khi đi đến khu vực nhà số 29 đường HHT, phường XH, thành phố N thì Tý chỉ cho Hx thấy 01 xe máy hiệu Honda SH Mode biển kiểm soát 79N2- 057.35 của bà Trần Thị S đang dựng trước nhà. Thấy vậy, H, Tý, nam thanh niên đứng cảnh giới còn Hx lén lút đi đến ngồi lên xe dắt xuống đường để H cùng Tý và nam thanh niên điều khiển xe máy thay nhau đẩy xe SH Mode đi đến hẻm số 119/2A đường PS, phường PS, thành phố N. Tại đây, Hx, H, Tý và nam thanh niên cùng tháo bửng trước xe máy SH Mode đấu dây điện để khởi động xe. Hx hỏi mượn biển kiểm soát 79N2- 880.98 của H để đánh tráo thay vào xe SH Mode thì H đồng ý. Khi vừa thay biển kiểm soát xong thì có lực lượng Công an phường PS đi tuần tra phát hiện. Lúc này, H, Tý và nam thanh niên bỏ chạy, còn Hx bị lực lượng công an đưa về trụ sở làm việc. Sau đó, H đến trụ sở Công an phường PS làm việc. Tại Cơ quan công an, Trịnh Quốc Hx và Ngô Minh H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bản kết luận định giá tài sản số 64/KL-HĐĐGTS ngày 23/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- UBND Tp.N kết luận: 01 xe máy hiệu Honda SH Mode biển kiểm soát 79N2- 057.35 có giá trị 16.500.000 đồng. Vật chứng thu giữ: + 01 xe máy hiệu Wave biển kiểm soát 79N2- 880.98 (đã trả lại cho chủ sở hữu ông Ngô Huệ Tr). + 01 xe máy hiệu Honda SH Mode biển kiểm soát 79N2- 057.35 (đã trả lại cho bị hại). + 01 xe máy hiệu Future có số khung RLHJC765XMY016804, số máy JC90E0119043 và biển kiểm soát 79N2- 967.24, qua xác minh xe máy này là tang vật trong vụ trộm tài sản xảy ra ngày 07/02/2023 tại 32 LS, phường PH, thành phố N- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã chuyển giao vật chứng để xử lý trong vụ án này. + 01 ống tuýt T10 và 01 con dao bấm bằng kim loại.

Bản Cáo trạng số 169/CT-VKSNT ngày 15 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố N để xét xử Trịnh Quốc Hx và Ngô Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Trịnh Quốc Hx và Ngô Minh H theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Minh H, xử phạt bị cáo Trịnh Quốc Hx từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, xử phạt bị cáo Ngô Minh H từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng tại phiên tòa, bị hại, người làm chứng vắng mặt. Xét việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt họ. [2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. [3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận, khoảng 18 giờ ngày 20/02/2023, tại trước nhà số 29 đường HHT, phường XH, thành phố N, Trịnh Quốc Hx và Ngô Minh H trộm cắp 01 xe máy hiệu Honda SH Mode biển kiểm soát 79N2- 057.35 có giá trị 16.500.000 đồng của bà Trần Thị S. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Biên bản sự việc, các Biên bản làm việc, Biên bản kiểm tra và trích xuất hình ảnh camera, vật chứng thu giữ được và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, bản Cáo trạng số 169/CT-VKSNT ngày 15 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa truy tố Trịnh Quốc Hx, Ngô Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất ổn định trật tự xã hội ở địa phương. Bị cáo Trịnh Quốc Hx là người chủ động tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Về nhân thân: Bản án số 13/2008/HS-ST ngày 25/01/2008 của Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt Trịnh Quốc Hx 30 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/3/2010 và các quyết định khác năm 2016. Bản án số 77/2012/HSST ngày 17/4/2012 của Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt Trịnh Quốc Hx 07 năm 06 tháng tù và phạt bổ sung 10.000.000 đồng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/10/2017 và các quyết định khác năm 2017. Ngày 16/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố N có Quyết định khởi tố bị can số 74/ĐCSHS đối với Trịnh Quốc Hx về tội trộm cắp tài sản. Thể hiện bị cáo Hx có nhân thân xấu, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh, cách ly bị cáo Hx khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo Hx đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản phạm tội đã thu hồi trả cho bị hại, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm, bị cáo có con còn nhỏ nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Hx. Đối với bị cáo Ngô Minh H, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản phạm tội đã thu hồi trả cho bị hại, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm, bị cáo H tham gia với vai trò giúp sức có tính hạn chế, bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có con còn nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình (được chính quyền địa phương xác nhận), nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo H và xét không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo Ngô Minh H được hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo, giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo. [4] Đối với đối tượng tên “Tý” và nam thanh niên cùng tham gia trộm cắp với Trịnh Quốc Hx, Ngô Minh H hiện không xác minh được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xử lý. [5] Đối với ông Ngô Huệ Tr là chủ sở hữu xe máy hiệu Wave biển kiểm soát 79N2- 880.98 (ông Tr là cha ruột của bị cáo H) khi cho H mượn xe, ông Tr không biết H mượn xe thực hiện hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, ông Tr xác định đã nhận lại xe, không có yêu cầu gì nên Tòa không xét. [6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo trộm cắp 01 xe máy hiệu Honda SH Mode biển kiểm soát 79N2- 057.35 của bà Trần Thị S. Tại phiên tòa bà S vắng mặt nhưng có lời khai đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì nên không xét. [7] Về vật chứng thu giữ: 01 ống tuýt T10 và 01 con dao bấm bằng kim loại- xét không giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. [8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trịnh Quốc Hx.

Xử phạt bị cáo Trịnh Quốc Hx 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/02/2023.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Minh H.

Xử phạt bị cáo Ngô Minh H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Ngô Minh H cho Ủy ban nhân dân xã VT, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Không xét yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm giữa bị hại đối với các bị cáo.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ống tuýt T10 và 01 (một) con dao bấm bằng kim loại, bề ngoài màu đen. (Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/5/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự Tp.N).

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; các bị cáo Trịnh Quốc Hx, Ngô Minh H mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

- Quyền kháng cáo của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, quyền kháng cáo của bị hại vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ