- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Phạm Thị Đ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 183/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-11-2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Linh Thị Ngọc Thạch
2. Bà Nguyễn Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 583/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 135/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Đ, sinh năm: 1992
Địa chỉ: tổ A, khu phố G, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Anh Phạm Quốc T, sinh năm: 1992
Địa chỉ: tổ A, khu phố G, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị Đ trình bày: Chị và anh Phạm Quốc T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Trước đó cả hai chưa ai có vợ có chồng.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống không hạnh phúc và thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, hay xảy ra xô xát, sống thiếu tôn trọng nhau, quá trình sống không còn chia sẻ, cảm thông cho nhau như những cặp vợ chồng khác. Hiện vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2022 đến nay, từ đó vợ chồng không còn quan tâm nhau, không chăm sóc nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Quốc T.
Về con chung: Anh chị có với nhau 02 con chung tên Phạm Quốc H, sinh ngày: 11/10/2015; Phạm Bảo N, sinh ngày: 19/4/2021. Khi ly hôn, chị Đ yêu cầu được các nuôi con chung và không yêu cầu anh Trung cấp d nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Đ trình bày không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Chị Phạm Thị Đ trình bày không có nợ chung.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phạm Quốc T được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án nhưng anh Phạm Quốc T vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án không thu thập được ý kiến của anh Phạm Quốc T đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Đ.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho cho chị Phạm Thị Đ được ly hôn với anh Phạm Quốc T.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Phạm Quốc H, sinh ngày: 11/10/2015; Phạm Bảo N, sinh ngày: 19/4/2021. Chị Đ yêu cầu được nuôi các con chung. Hiện cháu H có nguyện vọng muốn ở với mẹ, cháu N còn nhỏ rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Phạm Quốc H, cháu Phạm Bảo N cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đ không yêu cầu anh Trung cấp d nuôi con đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Đ trình bày không yêu cầu giải quyết; Về nợ chung chị Phạm Thị Đ trình bày không có, anh Phạm Quốc T không có lời khai về tài sản chung và nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền của Tòa án: Chị Phạm Thị Đ khởi kiện anh Phạm Quốc T về việc Ly hôn và yêu cầu được nuôi con chung. Do đó, quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Phạm Quốc T có nơi cư trú tại tổ A, khu phố G, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tư cách tham gia tố tụng: Chị Phạm Thị Đ khởi kiện anh Phạm Quốc T, nên xác định chị Đ là nguyên đơn, anh T là bị đơn theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị Đ có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; anh Phạm Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Phạm Thị Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự và xét xử vắng mặt anh Phạm Quốc T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Đ và anh Phạm Quốc T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Xét yêu cầu của nguyên đơn, nhận thấy: chị Phạm Thị Đ trình bày quá trình chung sống, vợ chồng sống không hạnh phúc và thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, hay xảy ra xô xát, sống thiếu tôn trọng nhau, quá trình sống không còn chia sẻ, cảm thông cho nhau như những cặp vợ chồng khác. Hiện vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2022 đến nay, từ đó vợ chồng không còn quan tâm nhau, không chăm sóc nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Quốc T.
Tại Biên bản xác minh ngày 07 tháng 9 năm 2023 tại khu phố G, thị trấn G (bút lục số 26) thể hiện anh T hiện nay đang cư trú và sinh sống tại địa phương; về quan hệ hôn nhân hiện nay chị Phạm Thị Đ và anh Phạm Quốc T khi xảy ra mâu thuẫn không có báo với chính quyền địa phương để tiến hành hòa giải. Trong quá trình làm việc, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Phạm Quốc T đến tham gia các buổi làm việc, xét xử nhưng anh T vắng mặt không có lý do chính đáng. Thấy rằng, chị Đ cương quyết xin ly hôn nhưng anh T không có nỗ lực thật sự để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng mặc dù Tòa án đã cho thời gian để chị Đ và anh Trung đoàn t vợ chồng nhưng anh T không đến Tòa án để làm việc và anh T cũng thờ ơ về việc chị Đ xin ly hôn với anh nên không có kết quả. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị Đ và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đ là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Anh chị có 02 con chung là cháu Phạm Quốc H, sinh ngày: 11/10/2015; cháu Phạm Bảo N, sinh ngày: 19/4/2021. Chị Đ yêu cầu được nuôi con chung là cháu H, cháu N. Xét thấy, cháu H có nguyện vọng muốn được ở với mẹ, cháu N còn nhỏ rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ để cháu phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần nên tiếp tục giao cháu Phạm Quốc H, cháu Phạm Bảo N cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đ tạm thời không yêu cầu anh Trung cấp d để nuôi cháu cháu H, cháu N. Anh T không có lời khai về con chung và về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Phạm Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy không giải quyết.
Về nợ chung: Chị Phạm Thị Đ trình bày không có. Anh Phạm Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy không giải quyết.
Về án phí: Chị Phạm Thị Đ phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36, khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Phạm Thị Đ.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Đ được ly hôn với anh Phạm Quốc T.
Quan hệ hôn nhân chấm dứt và Giấy chứng nhận kết hôn số 44, quyển số 01/2015, ngày 20 tháng 4 năm 2015 do Ủy ban nhân dân thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai cấp không còn giá trị pháp lý, kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Chị Phạm Thị Đ và anh Phạm Quốc T có với nhau 02 con chung là cháu Phạm Quốc H, sinh ngày: 11/10/2015; cháu Phạm Bảo N, sinh ngày: 19/4/2021.
Giao 02 con chung là cháu Phạm Quốc H; cháu Phạm Bảo N cho mẹ là chị Phạm Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về cấp dưỡng nuôi con: tạm thời chị Phạm Thị Đ không yêu cầu anh Phạm Quốc Trung cấp d1 nuôi con nên không xem xét giải quyết.
Anh Phạm Quốc T được quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của trẻ, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo vệ.
3. Về tài sản chung: Không giải quyết
4. Về nợ chung: Không giải quyết.
5. Về án phí: Chị Phạm Thị Đ phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Phạm Thị Đ đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008248 ngày 14 tháng 8 năm 2023 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc. Chị Phạm Thị Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Đ, anh Phạm Quốc T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Xuân Lộc; - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc; - UBND cấp xã; - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hải |