vanban.org

Bản án 183/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh C, buộc ông Đặng Phú T1 phải có nghĩa vụ trả cho ông C tổng số tiền vốn và lãi 155.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả lãi cho người được thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh C, buộc ông Đặng Phú T1 phải có nghĩa vụ trả cho ông C tổng số tiền vốn và lãi 155.
  • Căn cứ chính? Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2023/DS-ST
Ngày: 15 – 9 – 2023
V/v Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vinh Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Tăng Thị Bạch Vân;

Ông Nguyễn Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Trung-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Bích Ngọc-Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 79/2023/TLST-DS, ngày 04 tháng 4 năm 2023, về tranh chấp Hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 376/2023/QĐXXST-DS, ngày 18 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 302/2023/QĐST-DS, ngày 31 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số A Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Võ Hồ Thế P, sinh năm 1977 và ông Võ Duy T, sinh ngày 20/7/1988, cùng địa chỉ: Số G, Đường số A, Khu dân cư D, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Đặng Phú T1, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số F, ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo Đơn khởi kiện ngày 13/5/2023, Bản tự khai ngày 13/3/2023 và các tài liệu, chứng cứ khác trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Minh C trình bày:

Giữa ông và ông Đặng Phú T1 có quan hệ quen biết, nên ông Đặng Phú T1 có vay tiền của ông để bổ sung nguồn vốn làm ăn. Ngày 14/8/2020, ông T1 có vay của ông số tiền là 100.000.000 đồng, lãi suất 1,5%/tháng, thời hạn vay 02 tháng (có giấy xác nhận nợ). Ông đã nhiều lần yêu cầu ông T1 thanh toán dứt điểm số nợ trên, nhưng ông T1 hứa hẹn và đến nay vẫn chưa thanh toán.

Nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của ông bị xâm phạm nghiêm trọng, nên ông đề nghị Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xem xét giải quyết buộc ông Đặng Phú T1 phải trả số tiền gốc 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) và tiền lãi theo mức lãi suất 1,5/tháng, tính từ ngày 15/8/2020 đến 15/9/2023, là 37 tháng, với số tiền 55.500.000 đồng và tiếp tục tính lãi đến khi trả hết nợ gốc và lãi.

*Tại Biên bản lấy lời khai ngày 29/6/2023, bị đơn ông Đặng Phú T1 trình bày:

Ông biết việc ông Nguyễn Minh C khởi kiện đòi ông trả số tiền vay 100.000.000 đồng và lãi 46.300.000 đồng. Ông thừa nhận vào ngày 14/8/2020, có mượn của ông C số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất 1,5/tháng, khi mượn ông có ký tên vào giấy nhận nợ do ông C làm sẳng. Ông có trả lãi được vài tháng, nhưng không nhớ rõ bao nhiêu, cũng không có làm biên nhận và không có ai biết.

Trước yêu cầu khởi kiện của ông C, ông cũng đồng ý trả số tiền vốn và lãi 146.300.000 đồng, nhưng xin được trả dần hàng tháng từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, cho đến khi hết nợ.

Hiện nay, ông bị tạm giam về tội cố ý gây thương tích cho người khác, nên không thể tham gia hòa giải, xét xử, nên ông đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt theo quy định.

*Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách cho rằng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không rút lại đơn khởi kiện của nguyên đơn, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Về tố tụng:

Tại phiên tòa, bị đơn ông Đặng phú T2 vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án.

- Về nội dung:

Giữa nguyên đơn và bị đơn có thoả thuận và giao kết hợp đồng vay tài sản với nhau trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, các bên tham gia giao dịch đều là người có đủ năng lực hành vi dân sự, nên đây là giao dịch dân sự hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Hiện nay, bị đơn còn nợ nguyên đơn tiền vốn 100.000.000 đồng và lãi 55.500.000 đồng, đây là các tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:“Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và phải chịu lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật này quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay:“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn…”.

Tại khoản 1 Điều 351 và Điều 357 của Bộ luật này quy định Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ và Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: “Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ”; “1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. 2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này;…”.

Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, cho nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả vốn vay và lãi tổng cộng 155.500.000 đồng, là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại các điều 280, 351, 357, 166, 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả vốn vay và lãi tổng cộng 155.500.000 đồng. Đồng thời tiếp tục tính lãi phát sinh trong giai đoạn thi hành án theo quy định. Đối với yêu cầu xin trả dần của bị đơn, tại phiên tòa, người đại diện của nguyên đơn không đồng ý, nên không có cơ sở để xem xét chấp nhận, tuy nhiên hai bên có thể tiếp tục thỏa thuận phương thức trả nợ phù hợp ở giai đoạn thi hành án.

Đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tại phiên tòa, là có căn cứ chấp nhận, theo như nhận định và phân tích nêu trên.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Buộc bị đơn phải chịu: 155.500.000 đồng x 5% = 7.775.000 đồng.

- Ngyên đơn không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 280, 351, 357, 166, 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh C, buộc ông Đặng Phú T1 phải có nghĩa vụ trả cho ông C tổng số tiền vốn và lãi 155.500.000 đồng, trong đó tiền vốn 100.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 15/9/2023 là 55.500.000 đồng.

2. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả lãi cho người được thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc ông T1 phải chịu 7.775.000 đồng.

- Ông C không phải chịu và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.657.500 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007033, ngày 29/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

4. Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ