vanban.org

Bản án 183/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội Tuyên án 14/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H (Tên gọi khác Nguyễn Xuân H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2021. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H (Tên gọi khác Nguyễn Xuân H) phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H (Tên gọi khác Nguyễn Xuân H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2021/HSST
Ngày: 14/10/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn;

Bà Nguyễn Thị Thanh.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Hà Hùng Cường - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nghiêm Đình Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 10 năm 2021 tại Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 192/2021/TLST-HS ngày 25/8/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2021/QĐXXST-HS ngày 23/9/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1986; Tên gọi khác: Nguyễn Xuân H; Đăng ký HKTT: Khu 3 X T, xã Xuân H, huyện L T, tỉnh V P; Chỗ ở: Không cố định; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 08/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân H và bà Khổng Thị K; Danh bản, chỉ bản số: 348 do Công an quận Cầu Giấy lập ngày 15/6/2021; Tiền án: 10

- Bản án số 171/2004/HSST ngày 06/8/2004, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Đã xóa). Quyết định số 355 ngày 29/9/2004, của Tòa án Hà Nội định chỉ xét xử phúc thậm vụ án trên.

- Bản án số 290/2004/HSST ngày 26/11/2004, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp với Bản án số 171 ngày 08/8/2004, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Buộc H phải chấp hành chung là 16 tháng tú, ra trại ngày 30/8/2005 (Đã xóa)

- Bản án số 69/2007/HSST ngày 06/03/2007, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ra trại ngày 13/6/2007 (Đã xóa)

- Bản án số 398/2007/HSST ngày 19/12/2007, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xứ phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ra trại ngày 01/3/2008 (Đã xóa)

- Bản án số 103/2009/HSST ngày 22/4/2009, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ra trại ngày 10/4/2010 (Đã xóa)

- Bản án số 63/2012/HSST ngày 14/3/2012, Tòa án nhân dân huyện Nam Từ Liêm xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ra trại ngày 28/2/2013 (Đã xóa)

- Bản án số 241/2013/HSST ngày 17/9/2013, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Bản án số 910/2013/HSSP ngày 27/11/2013, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phúc thẩm giảm án phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại 11/02/2014 (Chưa xóa).

- Bản án số 164/2016/HSST ngày 24/8/2016, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

- Bản án số 225 /2016/HSST ngày 18/10/2016, Tòa án nhân dân quận Long Biên xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp với hình phạt của bản án 164 ngày 24/8/2016, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Buộc H phải chấp hành chung là 22 tháng tù. Ra trại ngày 02/6/2018 (Chưa xóa)

- Bản án số 219/2018/HSST ngày 19/10/2018, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xử phạt 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 06/01/2021 (Chưa xóa)

Bắt quả tang ngày 12/5/2021. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an Thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Bị hại:

Bà Nguyễn Thị Tất T, sinh năm 1969

Trú tại: Số 5/47, ngách 105 Doãn Kế T, phường M D, quận C G, TP. Hà Nội (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H ra tù tháng 01/2021 không có công việc ổn định, cần tiền chi tiêu cá nhân nên H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 11/05/2021, H đến Thành phố Hà Nội sống lang thang với mục đích xem ai sơ hở để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 6 giờ 13 phút ngày 12/05/2021, H mặc áo sơ mi dài tay sọc kẻ đỏ xanh, mặc quần màu ghi, đội mũ lưỡi chai màu nâu, đeo khẩu trang màu trắng đi vào trong ngách 105/47 Doãn Kế Thiện, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy với mục đích trộm cắp tài sản. Khi đến trước cửa số nhà 4 thì thấy cửa cổng không khóa, bên trong sân có dựng 01 chiếc xe đạp mi ni màu đỏ, H quan sát xung quanh không thấy ai nên dùng tay mở cửa cổng và đi vào bên trong trộm cắp chiếc xe đạp. H tiến lại gần chiếc xe đạp dùng tay cầm vào xe dắt đi qua cửa cổng ra ngoài ngách 105/47 Doãn Kế Thiện thì ông Nguyễn Minh T, sinh năm: 1963, trú tại: số 5 ngách 105/47 D K T (là chồng bà Nguyễn Thị Tất T, sinh năm: 1969) đang đứng trong nhà đối diện phát hiện hô hoán “trộm”. Thấy vậy, bà T đang ngồi trong nhà ngó ra thấy H đang dắt chiếc xe đạp của bà T. Bị phát hiện, H vứt chiếc xe đạp lại rồi bỏ chạy ra ngõ 105 Doãn Kế Thiện thì bị bà T, ông Tâm đuổi theo hô hoán “trộm, trộm". H bỏ chạy về hướng ngõ 66 Hồ Tùng Mậu, phường Mai Dịch, bà T đuổi khoảng 20m thì dừng lại không đuổi nữa. Lúc này có hai thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) nghe thấy nên đuổi theo giữ được H lại. Sau đó, bà T biết được một số người đã giữ được H nên đi ra xác định được người vừa trộm cắp chiếc xe đạp nên đã trình báo Công an phường Mai Dịch. Tiến hành kiểm tra camera xác định vào thời điểm 6 giờ 13 phút ngày 12/05/2021 Nguyễn Văn H mặc áo sơ mi dài tay sọc kẻ đỏ xanh, mặc quần màu ghi, đội mũ lưỡi chai màu nâu, đeo khẩu trang màu trắng đi vào trong ngách 105/47 Doãn Kế Thiện, phường Mai Dịch. Đến 6 giờ 15 phút cùng ngày, H bỏ chạy ra ngõ 105 Doãn Kế Thiện và bị bà T, ông T đuổi theo hô hoán “trộm, trộm” H xác nhận người trong hình ảnh chính là H. Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình. lời khai nhận tội của H phù hợp với lời khai của bị hại, nhân chứng và tang vật đã thu giữ.

Kết luận định giá số 214/TCKH-BBĐGHĐ ngày 13/05/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự xác định trị giá 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Giant Alice màu đỏ đã qua sử dụng là 430.000 đồng. Ngày 20/5/2021, cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe trên cho bà Nguyễn Thị Tất T, bà T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự.

Cáo trạng số 191/CT-VKSCG ngày 23/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố Nguyễn Văn H về tội “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn H, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 10 tháng tù đến 14 tháng tù.

Về vật chứng: Không có.

Về dân sự: Không có yêu cầu.

Án phí xử lý theo quy định.

Tại phiên toà: Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận hành vi do mình thực hiện là phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Nguyễn Văn H trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã ăn năn hối hận và mong muốn nhận được sự khoan hồng để có điều kiện cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Cầu Giấy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 06 giờ 13 phút ngày 12/05/2021, tại ngách 105/47 Doãn Kế Thiện, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn H có hành vi trộm cắp 01 (Một) chiếc xe đạp nhãn hiệu Giant Alice màu đỏ của bà Nguyễn Thị Tất T trị giá 430.000 đồng (Bốn trăm ba mươi nghìn đồng) thì bị bắt quả tang. Mặc dù giá trị tài sản trộm cắp dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo H là đối tượng có nhiều tiền án về tội chiếm đoạt chưa được xóa án tích. Tại Bản án số 219/2018/HSST ngày 19/10/2018, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy đã áp dụng tình tiết định khung tăng nặng tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 30 (Ba mươi) tháng tù về tội trộm cắp tài sản. bị cáo ra trại ngày 06/01/2021, chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội mới. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn H đã xâm phạm đến khách thể là quyền tài sản của người khác, đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực nhận thức, nhận biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, song do tham lam lười lao động, muốn có được tài sản ngay tức khắc mà bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải có mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để đảm bảo sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Nhận xét về vai trò, nhân thân và lượng hình đối với bị cáo, HĐXX nhận định: Xét về nhân thân, bị cáo Nguyễn Văn H là người đã có 10 Tiền án: Bản án số 171/2004/HSST ngày 06/8/2004, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Đã xóa). Quyết định số 355 ngày 29/9/2004, của Tòa án Hà Nội định chỉ xét xử phúc thẩm vụ án trên; Bản án số 290/2004/HSST ngày 26/11/2004, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp với Bản án số 171 ngày 08/8/2004, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Buộc H phải chấp hành chung là 16 tháng tú, ra trại ngày 30/8/2005 (Đã xóa); Bản án số 69/2007/HSST ngày 06/03/2007, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ra trại ngày 13/6/2007 (Đã xóa); Bản án số 398/2007/HSST ngày 19/12/2007, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xứ phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ra trại ngày 01/3/2008 (Đã xóa); Bản án số 103/2009/HSST ngày 22/4/2009, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ra trại ngày 10/4/2010 (Đã xóa); Bản án số 63/2012/HSST ngày 14/3/2012, Tòa án nhân dân huyện Nam Từ Liêm xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ra trại ngày 28/2/2013 (Đã xóa); Bản án số 241/2013/HSST ngày 17/9/2013, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Bản án số 910/2013/HSSP ngày 27/11/2013, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phúc thẩm giảm án phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại 11/02/2014 (Chưa xóa); Bản án số 164/2016/HSST ngày 24/8/2016, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 225 /2016/HSST ngày 18/10/2016, Tòa án nhân dân quận Long Biên xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp với hình phạt của bản án 164 ngày 24/8/2016, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Buộc H phải chấp hành chung là 22 tháng tù. Ra trại ngày 02/6/2018 (Chưa xóa); Bản án số 219/2018/HSST ngày 19/10/2018, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xử phạt 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 06/01/2021 (Chưa xóa)

Lần gần nhất sau khi chấp hành bản án về tội “Trộm cắp tài sản” được ra trại ngày 06/01/2021, bị cáo không coi đấy là bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân làm lại cuộc đời mà lại tiếp tục trộm cắp tài sản và coi việc phạm tội là mục đích để kiếm sống, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Không.

Về dân sự: Bà Nguyễn Thị Tất T không yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H (Tên gọi khác Nguyễn Xuân H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2021.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

2. Về xử lý vật chứng: Không.

3. Về dân sự: Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Cỡ chữ