- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Hoài N và đồng phạm phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác…"
- Tòa quyết gì? Căn c điểm b khoản Điều ; điểm c khoản điểm a khoản 2 Điều 7 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 4 Bộ luật hình sự và tăng hình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 183/2021/HS-PT Ngày: 06-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng
Các thẩm phán: Bà Huỳnh Kim Oanh
Ông Nguyễn Tuấn Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 11 tháng 5, ngày 08 tháng 6 và ngày 06 tháng 07 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 90/2021/TLPT-HS ngày 22 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Hoài N và Nguyễn Hồng H. Do có Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2021/HS-ST ngày 27 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố C về hình phạt và áp dụng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoài N và kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hồng H.
- Bị cáo bị kháng nghị: Nguyễn Hoài Nam (C sinh năm
tại tỉnh Đồng Tháp Nơi thường trú: T x khóm x phường x thành phố C tỉnh Đồng Tháp Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không Nghề nghiệp: Không Giới tính: Nam Trình độ học vấn: / 2 Con ông Nguyễn Hồng M Chết và bà Nguyễn Thị Hồng H có v tên Đ Thị D, sinh năm:
và có 0 người con sinh năm 2020 Tiền án tiền sự: Không Tạm gi tạm giam: Không đang bị áp dụng biện pháp ngăn ch n cấm đi kh i nơi cư trú. Bị cáo có m t tại phiên tòa.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Hồng H sinh ngày /4/200 tại tỉnh Đồng Tháp Nơi thường trú: T x khóm x Phường x thành phố C tỉnh Đồng Tháp Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không Nghề nghiệp: Không Giới tính: Nam Trình độ học vấn: / 2 Con ông Nguyễn Hồng M Chết và bà Nguyễn Thị Hồng H1 Chưa có v con Tiền án: Chưa Tiền sự: có 0 tiền sự ngày / /20 bị Ủy ban nhân dân phường thành phố C xử phạt 2. 00.000 đồng về hành vi xâm hại s c kh e người khác nộp phạt xong ngày 20/ 2/20 . Tạm gi tạm giam: Không đang bị áp dụng biện pháp ngăn ch n cấm đi kh i nơi cư trú. Bị cáo có m t tại phiên tòa.
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Châu Phạm Nhật Việt A, Nguyễn Hoàng P; người bị hại không kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án đư c tóm t t như sau:
Vào khoảng 22 giờ 0 phút ngày / 0/20 Nguyễn Hoài N cùng với Nguyễn Hồng H em ruột N Nguyễn Hoàng P Châu Phạm Nhật Việt A V Nguyễn Thanh H2 một thanh niên tên Duy A1 chưa r họ tên và địa chỉ và khoảng 0 người khác chưa r họ tên và địa chỉ đến quán Liễu Ốc thuộc t x khóm M, Phường x thành phố C tỉnh Đồng Tháp để uống bia nhưng quán không đủ ghế ngồi nên cả nhóm rời kh i quán.
Khi rời quán thì Việt A g p Lê Đăng K sinh năm:
nơi cư trú: khóm M phường x thành phố C đang ngồi uống bia tại quán cùng với một số người bạn của K. Việt A có đến ch K ngồi uống giao lưu với K 0 ly bia. Lúc này N nhìn thấy K nên nhớ lại mâu thu n việc trước đó K có đánh nhau với N và H làm Nbực t c nhưng N không nói gì với K. Sau đó cả nhóm của N đến 0 quán khác thuộc phường H uống bia và N có nói cho Việt A và nh ng người trong nhóm biết trước đây K có đánh nhau với N và H. Đến khoảng 00 giờ 20 phút ngày / 0/20 do quán bia ở phường H đóng cửa nên nhóm của N rủ nhau trở lại quán Liễu Ốc để tiếp tục uống bia rồi cả nhóm cùng nhau đi đến quán Liễu Ốc riêng H2 về nhà không đi cùng với nhóm. Khi đến nơi H nhìn thấy K v n còn ngồi uống bia tại quán Liễu Ốc nên H đi đến vị trí K đang ngồi rủ K đánh nhau K v a trả lời thì bị H dùng m bảo hiểm đánh trúng 0 cái vào đầu thì đư c Dương Trọng L, sinh năm: 2 nơi cư trú: t x khóm M phường x thành phố C tỉnh Đồng Tháp ngăn cản lại nên H không thể đánh K đư c tiếp. Lúc này N Việt A và P đ ng gần đó thấy sự việc liền cùng xông vào đánh K. N dùng ly thủy tinh Việt A dùng v chai bia hiệu Sài Gòn đ b ng thủy tinh P dùng tay chân đánh trúng nhiều cái vào đầu c bụng và m t của K. Trong lúc đánh nhau Việt A dùng 0 con dao loại dao gập một bên không r kích thước hình dạng do không thu hồi đư c đâm trúng vào bụng K 0 cái gây thủng bụng K b chạy đư c khoảng 00 mét thì bị N Việt A, A1 và P đu i kịp tiếp tục dùng tay và chân đánh trúng nhiều cái vào người K. Sau đó K vùng v y thoát thân đư c chạy đi l n trốn phía sau nhà dân gần đó thì nhóm của N b đi K đư c mọi người đưa đến Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp cấp c u điều trị đến ngày 2 / 0/20 thì xuất viện. Sau khi nhận đư c nguồn tin người dân trình báo Công an phường x thành phố C đến hiện trường xác minh ban đầu và chuyển vụ việc đến Cơ quan điều tra xử lý theo thẩm quyền.
Tang vật thu gi tại hiện trường gồm: 02 ly thủy tinh có quai bị v nhiều mảnh v v thủy tinh của chai bia màu nâu 0 cái ghế nhựa màu xanh bị g y 0 chân trước bên trái 0 ly thủy tinh có quai còn nguyên v n. Riêng cái m bảo hiểm H dùng đánh K, do H không th a nhận hành vi đánh K nên không giao nộp m bảo hiểm nên không thu hồi đư c.
Quá trình điều tra bị hại K khai vết thương thấu bụng là do Việt A dùng dao đâm và đ nhận dạng con dao tương tự như sau: dao gập một bên dài 24cm lư i dao dài 0 cm có 0 cạnh s t bén rộng 2 cm m i dao s c và nhọn cán dao d p làm b ng kim loại màu đen bạc dài
cm.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số /TgT ngày 2 / /20 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp đ kết luận thương tích của bị hại Lê Đăng K như sau:
- Bốn s o vết thương phần mềm vùng thái dương - chẩm trái kích thước m i s o: 0 cm x0,1cm 0 cm x0 cm
cm x0 cm
cm x0 cm s olànhkhôngdấu khuyết xương.
- Hai s o vết thương phần mềm vùng vai trái kích thước m i s o: 0 cm x 0 2cm 0 cm x 0 2cm s o lành.
- Hai s o vết thương phần mềm vùng c trái kích thước m i s o: 02cm x 0 2cm 2 cm x 0 2cm s o lành.
- Một s o vết thương phần mềm vùng c phải không liên tục kích thước 4 cm x 0 cm s o lành.
- Một s o vết thương vùng bụng trên rốn 2 cm kích thước: 2 cm x 0 cm.
- S o m đường gi a trên vùng quanh rốn kích thước 2cm x 0 2cm s o lành.
S o vết thương vùng c hướng t phải sang trái vùng đầu trực tiếp do vật c ng có cạnh gây nên vết thương vùng bụng do vật s c nhọn gây nên. T lệ t n thương cơ thể của Lê Đăng K tại thời điểm giám định là 0 .
Quá trình điều tra Nguyễn Hoàng P đ tự nguyện bồi thường 0.000.000 đồng tiền ch a trị cho bị hại. Phía bị hại đ nhận tiền không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm và có đơn đề nghị không truy c u trách nhiệm hình sự đối với P.
Khi xảy ra sự việc xô xát xảy ra có làm v một số ly thủy tinh v và mất một số v chai bia b ng thủy tinh g y 0 ghế nhựa của anh Nguyễn Dân T sinh năm: 4 nơi cư trú: t x khóm M phường x thành phố C Chủ quán Liễu Ốc . Tuy nhiên anh T không yêu cầu các bị cáo bồi thường và c ng không có yêu cầu nhận lại các tài sản đ hư h ng do không còn giá trị .
Tại cơ quan điều tra các bị cáo Nguyễn Hoài N Nguyễn Hoàng P thành khẩn khai báo hành vi phạm tội còn Nguyễn Hồng H không th a nhận việc dùng m bảo hiểm đánh K gây thương tích mà cho r ng khi sự việc đánh nhau diễn ra H chỉ can ngăn và Châu Phạm Nhật Việt A thì ban đầu th a nhận dùng c chai bia bị bể đâm vào bụng K gây thương tích ch không phải dùng dao đâm K nhưng sau đó Việt A lại thay đ i lời khai và cho r ng thương tích ở vùng bụng của K là do V Nguyễn Thanh H2 dùng hung khí là dao đâm trúng bụng K gây thương tích và chỉ th a nhận khi sự việc diễn ra Việt A có tham gia nhưng chỉ dùng tay đánh K. Tuy nhiên căn c vào nh ng tài liệu lời khai của bị hại nh ng người làm ch ng có m t tại hiện trường khi xảy ra sự việc cùng với vật ch ng thu gi kết luận giám định pháp y về thương tích đối với bị hại xác định thương tích vùng bụng do vật s c nhọn gây nên biên bản khám nghiệm hiện trường biên bản nhận dạng và các ch ng c khác thu đư c có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2021/HS-ST ngày 27/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố C đ quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoài N, Nguyễn Hồng H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn c điểm đ khoản 2 Điều 134 Điều Điều điểm b, s khoản khoản 2 Điều 51 khoản Điều 4 Điều của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Hoài N 0 một năm 0 ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính t ngày bị cáo chấp hành án.
- Căn c điểm đ khoản 2 Điều 134 Điều Điều điểm b khoản khoản 2 Điều 51 Điều của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Hồng H 02 hai năm 0 sáu tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính t ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Châu Phạm Nhật Việt A 03 năm tù; bị cáo Nguyễn Hoàng P 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 01 tháng 02 năm 2021, bị cáo Nguyễn Hồng H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nh hình phạt.
Ngày 24 tháng 02 năm 2021 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 02/QĐ-VKS-P về việc kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm số: 0/202 /HS-ST ngày 2 /0 /202 của Tòa án nhân dân thành phố C về việc áp dụng pháp luật và hình phạt và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử theo thủ tục phúc thẩm vụ án theo hướng sửa bản án sơ thẩm: Không áp dụng Điều 4 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoài N và tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoài N.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho r ng cấp sơ thẩm đ xét xử bị cáo Nguyễn Hoài N và Nguyễn Hồng H với tội danh điều khoản áp dụng đối với tội danh của các bị cáo là có căn c đúng người đúng tội đúng quy định pháp luật. Bị cáo Nguyễn Hoài N là người cùng Hà gi vai trò khởi xướng trong vụ án án sơ thẩm nhận định bị cáo N là người thực hành giúp s c tích cực nên áp dụng Điều 4 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N dưới khung và thấp hơn m c hình phạt của bị cáo Hà là chưa phù h p.
Xét m c hình phạt 02 năm 0 tháng tù đối với bị cáo Nguyễn Hồng H là có phần nghiêm kh c đối với bị cáo tại phiên tòa bị cáo H đ thành khẩn khai báo t ra ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nh quy định tại điểm s khoản Điều của Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
T nh ng phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp sửa án sơ thẩm không áp dụng Điều 4 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoài N tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoài N lên m c án khởi điểm là 02 hai năm tù.
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nh hình hình phạt của bị cáo Nguyễn Hồng H, giảm hình phạt cho bị cáo Nguyễn Hồng H xuống m c án 02 năm tù.
Các bị cáo th a nhận hành vi phạm tội không tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ đư c tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[ ] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Hoài N và Nguyễn Hồng H đ th a nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù h p với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa sơ thẩm phù h p với lời khai của của các bị cáo khác người bị hại người làm ch ng và các ch ng c khác trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 00 giờ 20 phút ngày 16/10/2019, Các bị cáo Nguyễn Hoài N Châu Phạm Nhật Việt A Nguyễn Hồng H và Nguyễn Hoàng P với bản chất côn đồ vô cớ dùng tay chân nón bảo hiểm ly thủy tinh v chai bia thủy tinh và dao s c nhọn là hung khí nguy hiểm tấn công bị hại Lê Đăng K hậu quả bị hại Lê Đăng K 04 vết thương phần mềm vùng thái dương - chẩm trái 02 vết thương phần mềm vùng vai trái 0 vết thương phần mềm vùng c và 0 vết thương vùng bụng phía trên rốn cách rốn 2 cm với t lệ t n thương cơ thể tại thời điểm giám định là 0 .
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo Nguyễn Hoài N và Nguyễn Hồng H là nguy hiểm cho x hội đ xâm phạm đến s c kh e của người khác một cách trái pháp luật. Các bị cáo là người đ thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Nhưng chỉ vì N nhớ lại việc trước đây K và N, H có đánh nhau nên kể cho các bị cáo đi chung nghe và sau khi cả nhóm của các bị cáo đ có rư u trong người quay lại kiếm bị hại K và các bị cáo vô cớ dùng tay chân nón bảo hiểm ly thủy tinh v chai bia thủy tinh và dao s c nhọn là hung khí nguy hiểm đánh đâm bị hại Lê Đăng K gây thương tích. Các bị cáo nhận th c đư c ly thủy tinh v chai bia thủy tinh và dao s c nhọn là hung khí nguy hiểm nhận th c đư c hành vi dùng ly thủy tinh v chai bia thủy tinh và dao s c nhọn đánh đâm vào cơ thể người khác là sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo v n thực hiện và hậu quả đ xảy ra làm cho Lê Đăng K bị thiệt hại về s c kh e với t lệ thương tật tại thời điểm giám định là 30%, ch ng t việc phạm tội của các bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đ hoàn thành.
Tòa án cấp sơ thẩm đ xét xử bị cáo Nguyễn Hoài N, Nguyễn Hồng H về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn c đúng người đúng tội. Tuy nhiên, xét m c hình phạt điều luật áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Hoài N mà án sơ thẩm đ tuyên là chưa phù h p. Bởi lẽ bị cáo Nguyễn Hoài N là người cùng Hà gi vai trò khởi xướng trong vụ án án sơ thẩm nhận định bị cáo N là người thực hành giúp s c tích cực và áp dụng Điều 4 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N dưới khung và thấp hơn m c hình phạt của bị cáo H là chưa phù h p với vai trò, tính chất m c độ hành vi do bị cáo gây ra. Hội đồng xét xử xét thấy cần tăng m c hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoài N và không áp dụng Điều 4 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Đối với kháng cáo xin giảm nh hình phạt của bị cáo Nguyễn Hồng H Hội đồng xét xử xét thấy r ng tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đ thành khẩn khai báo t ra ăn năn hối cải gia đình bị cáo có công với cách mạng đây là tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự mới phát sinh tại cấp phúc thẩm quy định tại điểm s khoản khoản 2 Điều của Bộ luật hình sự mà án sơ thẩm chưa áp dụng thêm cho bị cáo và xem xét giảm nh một phần về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hồng H.
Xét Quyết định kháng nghị số: 02/QĐ-VKS-P7 ngày 24/02/2021 và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các là hoàn toàn có căn c và phù h p pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[ ] Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hồng H đư c chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực kể t ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c điểm b khoản Điều ; điểm c khoản điểm a khoản 2 Điều 7 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp về việc không áp dụng Điều 4 của Bộ luật hình sự và tăng hình đối với bị cáo Nguyễn Hoài N.
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nh hình phạt của bị cáo Nguyễn Hồng H.
Sửa phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số: 0/202 /HS-ST ngày 27/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố C về phần áp dụng pháp luật đối với bị cáo Nguyễn Hoài N và phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoài N, Nguyễn Hồng H.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoài N Nguyễn Hồng H cùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn c điểm đ khoản 2 Điều 134 Điều Điều điểm b, s khoản khoản 2 Điều 51; Điều của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Hoài N 02 hai năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính t ngày bị cáo chấp hành án.
- Căn c điểm đ khoản 2 Điều 134 Điều ; Điều ; điểm b, s khoản khoản 2 Điều 51; Điều của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Hồng H 02 hai năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính t ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều
khoản 2 Điều Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Nguyễn Hoài N và Nguyễn Hồng H không phải án phí hình sự phúc thẩm.
. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực kể t ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC Vụ GĐKT - VKSND Tỉnh - Ban nội chính Tỉnh ủy - Sở Tư pháp Tỉnh - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh - TAND Tp.C (04 bản ; - VKSND Tp. C; - Chi cục THADS Tp. C; - Cơ quan CSĐT Tp. C; - Cơ quan THAHS Tp. C; - Trại tạm giam Công an Tỉnh - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh - Bị cáo - Lưu VT HSVA M). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Minh Tùng |