vanban.org

Bản án 183/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Anh T 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 05/05/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Anh T Trộm cắp tài sản Khoản 1 Điều 173 BLHS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2020/HS-ST
Ngày 16-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Mỹ Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Huỳnh S Tây.

2/ Ông Đào Văn Nô.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 181/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Hoàng Anh T, sinh năm 1991 tại Hà Tĩnh; địa chỉ thường trú: Xóm A, xã H, huyện K, tỉnh T; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng X và bà Phan Thị Q; vợ tên Cao Thị T1; bị cáo có 01 người con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; Ngày 05/5/2020, bị cáo bị tạm giữ đến ngày 06/5/2020 chuyển sang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã Tân Uyên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Cháu Nguyễn Thành S, sinh ngày 22/4/2003; địa chỉ: Khu phố B, phường K, thị xã T, tỉnh B. Có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị K; địa chỉ: Khu phố B, phường K, thị xã T, tỉnh B. Có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Hoàng N, sinh năm 1995; địa chỉ thường trú: Xóm A, xã H, huyện K, tỉnh T; địa chỉ tạm trú: Tổ A, Khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đ. Có mặt

2. Bà Cao Thị T1, sinh năm 1992; địa chỉ thường trú: Xóm B, xã L, huyện K, tỉnh H; địa chỉ tạm trú: Tổ A, Khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đ. Có mặt

3. Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng; địa chỉ: Tầng 2, Tòa nhà REE Tower, số 9, đường Đoàn Văn Bơ, Phường 12, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Lô B, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên – Là người đại diện theo pháp luật.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn H, sinh năm 1981; địa chỉ: đường D, Phường I, Quận T, Thành phố H – Là người đại diện theo ủy quyền. Vắng mặt

- Người làm chứng: Bà Cao Thị N. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Anh T và đối tượng tên Minh (Không rõ nhân thân) có mối quan hệ là bạn với nhau. Khoảng 11 giờ ngày 01/3/2020, Minh gọi điện thoại bảo T đi tìm tài sản, không người trông coi để chiếm đoạt đem bán lấy tiền tiêu xài. T đồng ý. Minh bảo T đến khu vực chùa Cao Đài, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương để đón Minh. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 38P1-588.36 đi từ nhà trọ thuộc phường Long Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đến khu vực chùa Cao Đài. Tại đây, T và Minh gặp nhau. T điều khiển xe biển số 38P1-588.36 chở Minh đi đến địa bàn thuộc thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Khi đi qua quán cà phê HD Star thuộc Khu phố 3, phường Uyên Hưng, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, T và Minh nhìn thấy phía trước quán cà phê HD Star có một xe mô tô biển số 61E1-775.53 (Chìa khóa vẫn còn để trong ổ khóa xe) của Nguyễn Thành S. Lúc này, T điều khiển xe đi đến gần vị trí xe 61E1-775.53 rồi dừng xe lại (Cách vị trí xe biển số 61E1-775.53 khoảng 03m), Minh bước xuống xe và đi đến vị trí xe biển số 61E1-775.53 ngồi lên xe rồi khởi động xe 61E1 – 775.53 chạy về hướng thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Sau khi chiếm đoạt được xe 61E1-775.53, Minh bán xe 61E1-775.53 ở địa bàn thuộc thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương được số tiền là 7.000.000 đồng, Minh đưa cho T số tiền 3.000.000 đồng.

Ngày 05/5/2020, T tiếp tục điều khiển xe biển số 38P1-588.36 đi với Phạm Hồng Lương (Sinh năm 1992; địa chỉ thường trú: Xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang) đến địa bàn thuộc thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương để chiếm đoạt tài sản có giá trị đem bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi đến phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng tuần tra Công an phường An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương thấy T và Lương có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Tại đây, T khai nhận: Ngày 01/3/2020, tại quán cà phê HD Star thuộc Khu phố 3, phường Uyên Hưng, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, T và Minh có hành vi chiếm đoạt xe mô tô biển số 61E1-775.53. Công an phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đưa T về trụ sở để làm việc và tiến hành tạm giữ: 01 xe mô tô biển số 38P1-588.36, 01 điện thoại di động hiệu Nokia, 01 điện thoại hiệu Samsung.

Do T có hành vi trộm cắp tài sản tại khu phố 3, phường Uyên Hưng, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để thụ lý theo thẩm quyền.

Tại Kết luận định giá tài sản số 174/KLTS-TTHS ngày 06/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Tân Uyên kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX biển số 61E1-775.53 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 22.575.000 đồng. Xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX biển số 61E1-775.53 do Nguyễn Thành S đứng tên chủ sở hữu.

Tại Kết luận định giá tài sản số 255/KLTS-TTHS ngày 07/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Tân Uyên kết luận: 01 xe mô tô biển số 38P1-588.36 có giá trị tại thời điểm định giá là 19.600.000 đồng. Xe mô tô biển số 38P1-588.36 do Cao Thị T1 đứng tên chủ sở hữu. Đây là tài sản chung của T và T1. Ngày 01/3/2020, T điều khiển xe mô tô biển số 38P1-588.36 đi trộm cắp tài sản thì T1 không biết.

Bản Cáo trạng số 183/CT-VKSTU ngày 17/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Hoàng Anh T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như cáo trạng và cho rằng: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Anh T mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bồi thường thiệt hại, không yêu cầu bồi thường thêm nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 46 và 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Hoàng Anh T một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xám và một điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên sau khi bán đấu giá tài sản là xe mô tô biển số 38P1-588.36 thì một nửa giá trị xe bán được sẽ sung vào Ngân sách nhà nước, một nửa giá trị còn lại sẽ trả cho bà Cao Thị T1.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Cao Thị T1 trình bày: Xe mô tô biển số 38P1-588.36 do bà Cao Thị T1 đứng tên chủ sở hữu. Đây là tài sản chung của bà T1 và bị cáo T. Việc bị cáo T sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện đi trộm cắp tài sản thì bà T1 hoàn toàn không biết. Tại phiên tòa, bà T1 trình bày do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không có khả năng nộp số tiền tương đương ½ giá trị xe để lấy xe, do đó, bà T1 không có yêu cầu nhận lại xe.

Ta ̣i phiên tòa, bị cáo Hoàng Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Tân Uyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về việc vắng mặt của cháu Nguyễn Thành S và người đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Thị Ký, Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng. Xét, việc vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án vì đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án để xét xử theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai của bị cáo Hoàng Anh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án về quá trình thực hiện hành vi phạm tội cũng như vật chứng thu giữ trong vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 01/3/2020, bị cáo T và Minh (Không rõ nhân thân) có hành vi lén lút lấy trộm chiếc xe mô tô biển số 61E1-775.53 do Nguyễn Thành S đứng tên chủ sở hữu có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 22.575.000 đồng (Theo Kết luận định giá tài sản số 174/KLTS-TTHS ngày 06/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Tân Uyên).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì động cơ tư lợi và thái độ coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin bãi nạn. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ tội phạm và nhân thân bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46 và 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại cho bị cáo Hoàng Anh T một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xám và một điện thoại di động nhãn hiện NOKIA do không liên quan đến hành vi phạm tội.

- Đối với xe mô tô biển kiểm soát 38P1-588.36 mà bị cáo T dùng làm phương tiện phạm tội phải bị tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, đây là tài sản chung của bà T1 và bị cáo. Tại phiên tòa, bà T1 không yêu cầu nhận lại xe nên sau khi bán đấu giá chiếc xe mô tô biển số 38P1-588.36 thì một nửa giá trị xe bán được sẽ sung vào Ngân sách nhà nước, một nửa giá trị còn lại sẽ trả cho bà Cao Thị T1.

Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng không có yêu cầu gì đối với vụ án nên Hội đồng không xem xét giải quyết.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Các Điều 46, 47; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Các Điều 106, 135; 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố bị cáo Hoàng Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Xử phạt bị cáo Hoàng Anh T 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 05/05/2020.

2. Về xử lý vật chứng:

- Trả lại cho bị cáo Hoàng Anh T một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xám và một điện thoại di động nhãn hiện NOKIA.

- Sau khi bán đấu giá chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu cam đen, biển số 38P1-588.36, số khung 3240KY239918, số máy E3X9E660520, một nửa giá trị sẽ được sung vào Ngân sách Nhà nước, một nửa giá trị còn là sẽ trả cho bà Cao Thị T1.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/9/2020)

3. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Hoàng Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ