vanban.org

Bản án 183/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo H Anh T ph m tội “Cướp gi t tài sản”

Xử ph t bị cáo H Anh T 04 (bốn) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 30/6/2020. Buộc bị cáo H Anh T b i thường cho chị Nguyễn Lê Việt A số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đ ng thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp lu t. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "183 Hồ Anh T 171 - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo H Anh T ph m tội “Cướp gi t tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183 /2020/HS-ST
Ngày 17 - 12 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thái Thục Hiền

Bà Nguyễn Thị Kính

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Khá - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2020 t i trụ s Tòa án nh n d n Qu n 8 Thành phố H Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 211/2020/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 226/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2020, đối với bị cáo:

H Anh T; sinh năm 1989 t i Thành phố H Chí Minh; nơi cư trú: 101 lô A chung cư C Phường X Qu n 5 Thành phố H Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông H Minh S và bà Nguyễn Thị H; có vợ và 01 con sinh năm 2019.

Tiền án tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 30/12/2013, bị Tòa án nhân dân Thành phố H Chí Minh xử 05 năm tù về tội “Cướp gi t tài sản”. Bị cáo kháng cáo đến ngày 18/01/2014, bị cáo có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo, ngày 06/3/2014 Tòa Phúc thẩm Tòa án nh n d n Tối cao t i Thành phố H Chí Minh quyết định Đình chỉ xét xử phúc thẩm. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 02/6/2017.

Bị bắt t m giữ t m giam từ ngày 30/6/2020 đến nay (có mặt).

Bị hại: Chị Nguyễn Lê Việt A sinh năm: 1995; nơi cư trú: (Hộ khẩu thường trú: 30A đường T Phường S thành phố T tỉnh L; chỗ : 177/1 đường H, Phường L Qu n 5 Thành phố H Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 25/6/2020, H Anh T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius (không rõ biển số) trên đường P, Phường 10 Qu n 8 Thành phố H Chí Minh. Khi T đi đến trước nhà số 2/7 P Phường 10 Qu n 8 Thành phố H Chí Minh thì phát hiện chị Nguyễn Lê Việt A dừng xe mô tô hướng đối diện trên xe có để 01 ba lô ba ga phía trước. T nảy sinh ý định chiếm đo t chiếc ba lô của chị A. Thực hiện ý định T điều khiển xe áp sát xe chị A bất ngờ dùng tay trái gi t được chiếc ba lô của chị A và tăng ga tẩu thoát. Chiếm được chiếc ba lô T kiểm tra bên trong chiếc ba lô có 01 máy tính laptop hiệu Macbook Air 01 điện tho i di động hiệu Iphone 7 plus 01 bóp cầm tay bên trong có 1.000.000 (một triệu) đ ng cùng các giấy tờ cá nh n. Sau đó T lấy máy tính laptop đến bán cho anh Lê Văn B cửa hàng Lê B số 48 Đường V Qu n 10 Thành phố H Chí Minh và bán điện tho i cho đối tượng tên Sỹ (không rõ lai lịch), tổng cộng được 9.000.000 (chín triệu) đ ng cùng số tiền 1.000.000 (một triệu) đ ng T đã tiêu xài hết. Riêng chiếc ba lô, tai nghe bóp da cục pin dự phòng giá đỡ laptop cùng giấy tờ tùy th n của chị A bộ quần áo T mặc lúc ph m tội T vứt bỏ t i kênh H Qu n 8 Thành phố H Chí Minh (không nhớ địa chỉ) nên không thu h i được.

Sau khi bị cướp gi t chị A đã đến Công an Phường 10 Qu n 8 Thành phố H Chí Minh trình báo. Công an Qu n 8 tiến hành xác minh trích xuất Camera an ninh và truy tìm đối tượng g y án. Nghi ngờ bị phát hiện nên T nói l i sự việc đi cướp gi t và bán điện tho i máy tính cho mẹ của T là bà Nguyễn Thị H biết. Ngày 28/6/2020, qua lời chỉ dẫn của T, bà H đã đi truy tìm tài sản T đã bán thu h i về và đã giao nộp chiếc máy tính laptop điện tho i di động hiệu Iphone 7 plus mà T cướp gi t cho Công an Qu n 8.

Qua truy xét Công an Qu n 8 đưa H Anh T về trụ s làm việc và T khai nh n hành vi ph m tội như trên.

Ngày 28/8/2020, Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Qu n 8 kết lu n: 01 laptop hiệu Macbook Air màu b c đời 2015 256 GB 13 inch trị giá 12.000.000 đ ng; 01 chiếc điện tho i di động hiệu Iphome 7 plus màu đen 128 GB có giá trị 5.500.000 đ ng; tai nghe Air Pods 2 lo i s c có d y trị giá 2.700.000 đ ng 01 cục pin dự phòng hiệu ROMOSS 10.000 Mah trị giá 225.000 đ ng; 01 giá đỡ laptop hiệu MoJt Stand lo i tháo rời trị giá 225.000 đ ng. Áo khoác, bóp da, ba lô không có nhãn hiệu và không thu h i được nên không có cơ s định giá.

T i Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 H Anh T khai nh n toàn bộ hành vi ph m tội trên lời khai của bị can phù hợp lời khai bị h i v t chứng thu giữ lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ trong h sơ vụ án.

Trách nhiệm d n sự: Công an Qu n 8 đã ra quyết định trả chiếc điện tho i di động hiệu Iphone 7 plus và máy tính laptop cho bị h i. Số tài sản bị mất không thu h i l i được chị A yêu cầu bị cáo b i thường gia trị tổng thiệt h i là 6.000.000 (sáu triệu) đ ng.

V t chứng: 01 USB ghi hình ảnh T cướp gi t tài sản của chị A, lưu trữ theo h sơ vụ án.

T i bản Cáo tr ng số 203/CT-VKS ngày 06/11/2020 Viện kiểm sát nh n d n Qu n 8 Thành phố H Chí Minh truy tố bị cáo H Anh T về tội “Cướp gi t tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

T i phiên tòa

Kiểm sát viên đ i diện Viện kiểm sát nh n d n Qu n 8 Thành phố H Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo H Anh T về tội “Cướp gi t tài sản”. Sau khi ph n tích đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử ph t bị cáo từ 04 năm đến 05 năm tù; không áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm d n sự đề nghị chấp nh n yêu cầu b i thường thiệt h i của bị h i. Về xử lý v t chứng đề nghị tiếp tục lưu trữ trong h sơ 01 USB ghi hình ảnh T cướp gi t tài sản của chị A.

Bị cáo không có ý kiến tranh lu n; bị cáo thừa nh n hành vi ph m tội ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình ph t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa Hội đ ng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 Điều tra viên Viện kiểm sát nh n d n Qu n 8 Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và t i phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về các hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

T i phiên tòa bị cáo đã khai nh n hành vi phù hợp với lời khai t i cơ quan điều tra phù hợp với lời khai bị h i người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong h sơ vụ án xác định vào khoảng 17 giờ ngày 25/6/2020 t i trước số 2/7 P Phường 10 Qu n 8 Thành phố H Chí Minh bị cáo H Anh T có hành vi điều khiển xe mô tô công khai chiếm đo t 01 chiếc ba lô của chị Nguyễn Lê Việt A bên trong có tổng trị giá là 21.650.000 đ ng r i nhanh chóng tẩu thoát, nhưng sau đó bị bắt. Bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện ph m tội đ y là tình tiết định khung tăng nặng “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”.

Điều 171 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội “Cướp gi t tài sản” như sau:

“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

…

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.”

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý đã x m ph m đến quyền s hữu tài sản của cá nh n được pháp lu t bảo vệ. Do đó Hội đ ng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo H Anh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp gi t tài sản” tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hành vi ph m tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xét tính nghiêm trọng của tội ph m mà bị cáo đã thực hiện cần thiết pH cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình ph t tù có thời h n nhằm cải t o giáo dục bị cáo tr thành người có ích có ý thức tu n theo pháp lu t và các quy tắc của cuộc sống ngăn ngừa ph m tội mới; đ ng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội ph m trong xã hội.

Cáo tr ng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cướp gi t tài sản” là có cơ s

đúng người đúng tội. Mức hình ph t mà Viện kiểm sát nh n d n Qu n 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội nên có căn cứ chấp nh n. Tuy nhiên trong quá trình điều tra truy tố và t i phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động mẹ bị cáo thu h i trả l i một phần tài sản trộm cắp cho bị h i do đó Hội đ ng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình ph t đối với bị cáo.

Năm 2013 bị cáo bị Tòa án nh n d n Thành phố H Chí Minh kết án về tội “Cướp gi t tài sản”. Mặc dù không bị coi là án tích nhưng khi lượng hình Hội đ ng xét xử cũng xem xét để có mức hình ph t phù hợp với nh n th n bị cáo.

Xét thấy theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo t i phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nh p không ổn định điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đ ng xét xử không áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo.

Về xử lý v t chứng: Chiếc laptop hiệu Macbook Air và chiếc điện tho i di động hiệu Iphone 7 plus là tài sản bị cáo chiếm đo t cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý v t chứng trả l i cho chị A. Chị A không có ý kiến yêu cầu gì liên quan đến việc t m giữ xử lý v t chứng nên Hội đ ng xét xử không xem xét.

Xét v t chứng 01 USB ghi hình ảnh T cướp gi t tài sản của chị A, cần tiếp tục lưu trữ trong h sơ vụ án.

Về trách nhiệm d n sự bị h i Nguyễn Lê Việt A yêu cầu bị cáo b i thường giá trị số tài sản bị trộm không thu h i l i được là 6.000.000 (sáu triệu) đ ng. Xét thấy thiệt h i xảy ra là do hành vi ph m tội của bị cáo gây ra, t i phiên tòa bị cáo đ ng ý b i thường theo yêu cầu của bị h i. Do đó Hội đ ng xét xử căn cứ Điều 48 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 589 Bộ lu t D n sự buộc bị cáo b i thường thiệt h i cho bị h i.

Xe mô tô (không rõ biển số) T dùng làm phương tiện ph m tội T khai mượn của anh Tý trên đường H, huyện C, Thành phố H Chí Minh (không rõ địa chỉ) sau khi ph m tội T đã trả l i anh Tý, Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 không có căn cứ thu h i để xử lý nên Hội đ ng xét xử không xem xét.

Đối với anh Lê Văn B không thừa nh n mua chiếc máy tính laptop của T bán, ngoài lời khai của T ra không còn có tài liệu chứng cứ xác định anh B mua tài sản do T ph m tội mà có, Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 không xem xét xử lý là phù hợp quy định pháp lu t.

Bà Nguyễn Thị H (mẹ T) sau khi biết được T chiếm đo t tài sản của chị A đã chuộc l i máy tính điện tho i trả cho bị h i nên Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 không xem xét xử lý là phù hợp quy định pháp lu t.

Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí d n sự sơ thẩm: Căn cứ quy định t i các điều 23, 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí d n sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo H Anh T ph m tội “Cướp gi t tài sản”

- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử ph t bị cáo H Anh T 04 (bốn) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 30/6/2020.

- Căn cứ vào Điều 48 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); các điều 357 468 589 của Bộ lu t D n sự.

Buộc bị cáo H Anh T b i thường cho chị Nguyễn Lê Việt A số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đ ng thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp lu t.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp lu t cơ quan Thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo chưa thi hành đầy đủ khoản tiền b i thường thiệt h i về tài sản theo mức nêu trên thì hàng tháng còn pH chịu khoản tiền lãi của số tiền còn pH thi hành án theo mức lãi suất quy định t i các điều 357, 468 của Bộ lu t D n sự, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự.

Tiếp tục lưu trữ trong h sơ 01 USB ghi hình ảnh T cướp gi t tài sản của chị A.

- Căn cứ vào các điều 135 136 của Bộ lu t Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo H Anh T nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đ ng án phí d n sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị h i vắng mặt t i phiên toà có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày tính từ ngày nh n được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp lu t.

Cỡ chữ