- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Tống Thị Y - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tống Thị Y phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt tù; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:183/2019/HS-ST Ngày 19 - 6 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Hồng Gấm.
2. Bà Phạm Tú Nhi.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 160/2019/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2019/HSST-QĐ ngày 05/6/2019 đối với bị cáo:
Tống Thị Y, sinh năm 1988 tại tỉnh Thanh Hóa; thường trú: Thôn L xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: 33 đường 21 khu phố Đ1, phường A, thị xã K, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Tống Đức B, sinh năm 1958 và con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963; bị cáo có chồng tên Nguyễn Chí A, sinh năm 1987 (đã ly hôn), bị cáo có 02 con sinh năm 2008 và năm 2018; tiền sự, tiền án: Không có, có mặt.
- Bị hại: Chị Võ Thị T, sinh năm 2000; thường trú: Xóm 9 xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú: Khu phố Đ1, phường B, thị xã K, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Tống Thị Y, bị hại Võ Thị T là bạn làm chung tại bộ phận phối hàng công ty Esprinta địa chỉ khu công nghiệp Sóng Thần 1, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, Y biết thẻ ATM của chị T để chung với thẻ nhân viên. Khoảng 16 giờ ngày 5/12/2018, bị cáo Y mượn thẻ nhân viên của chị T và lấy thẻ ATM ra cất giấu và trả lại thẻ nhân viên cho chị T. Vào lúc 17 giờ 30 phút cùng ngày, Y đi bộ về phòng trọ mượn xe mô tô người tên Thọ ( không rõ lai lịch) đi đến trụ ATM Viettinbank địa chỉ đường Đại lộ Độc Lập, khu công nghiệp Sóng Thần 2, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương lấy thẻ ATM của chị T và nhập mật khẩu 050900 (ngày, tháng, năm sinh của chị T) thực hiện giao dịch rút tiền 3 lần được 8.600.000 đồng. Sau khi rút tiền xong trên đường đi về phòng trọ Y vứt bỏ thẻ ATM của chị T. Ngày 6/12/2018, chị T biết bị mất 8.600.000 đồng trong thẻ ATM nên đi khiếu nại, qua video phía Ngân hàng cung cấp chị T biết Y rút tiền. Ngày 11/01/2019, chị T đến Công an phường Dĩ An trình báo sự việc, cùng ngày Y đến Công an phường Dĩ An đầu thú.
Vật chứng thu giữ: 01 USB ghi lại hình ảnh Y rút tiền tại trụ ATM vào ngày 05/12/2018 (được lưu trữ cùng hồ sơ).
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Y đã trả lại chị Võ Thị T 8.600.000 đồng, chị T không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Cáo trạng số 177/CT-VKS ngày 22/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Tống Thị Y về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:
p dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Y t 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách t 12 đến 18 tháng.
Bị cáo Y không tranh luận, không bào chữa cho hành vi phạm tội. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ xác định bị cáo phạm tội: Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ngày 11/01/2019, lời khai bị cáo, bị hại và trình bày tại phiên tòa thể hiện bị cáo Tống Thị Y lén lút lấy thẻ ATM của chị Võ Thị T đi đến trụ rút tiền ATM thực hiện việc rút tiền t tài khoản của chị T chiếm đoạt 8.600.000 đồng vào ngày 5/12/2018. Như vậy, hành vi trên của bị cáo Y đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 177/CT – VKS ngày 22/5/2019 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Y cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Y không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả; bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo ra đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, hiện bị cáo đang nuôi dưỡng hai con còn nhỏ. Tình tiết giảm nhẹ trên được quy định điểm b, h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Y có nhân thân tốt thể hiện bị cáo có nghề nghiệp ổn định, không có tiền án, tiền sự, bị cáo nhất thời phạm tội.
Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm do bị cáo Y thực hiện là ít nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 03 năm tù, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản của chị Võ Thị T được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Xét, bị cáo Y có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo đang nuôi dưỡng hai người con còn nhỏ và có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy, không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, bị cáo có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt tù cho hưởng án treo giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi cư trú để giám sát, giáo dục cũng có tác dụng giáo dục, răn đe phòng ng a chung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Võ Thị T đã được bồi thường và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Do vậy, Hội đồng xét xử không xét.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với bị cáo Y cũng như việc xử lý vật chứng. Xét quan điểm trên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo Y phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Tống Thị Y phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao.
Xử phạt bị cáo Tống Thị Y 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính t ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Tống Thị Y cho Ủy ban nhân dân ph ng Dĩ An, thị xã Dĩ An, t nh Bình D ng giám sát giáo dục trong th i gian thử thách. Trong tr ng hợp bị cáo Y thay đổi n i c trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật Thi Hành án Hình sự.
Trong th i gian thử thách, nếu ng i đ ợc h ởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ng i đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho h ởng án treo
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14.
Bị cáo Tống Thị Y phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã; - Công an thị xã; - Chi cục THA dân sự thị xã; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - TAND tỉnh BD; - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú; - Phòng PV 27 CA tỉnh BD; - Phòng PC 81 CA tỉnh BD; - Bị cáo; bị hại; người cqlnvlq; - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Linh |