- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hồ Thị Th xin được ly hôn anh Bùi Thanh H"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Hồ Thị Th đối với Anh Bùi Thanh H về việc “tranh chấp ly hôn”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 183/2019/HNGĐ-ST Ngày: 15/7/2019 V/v “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hai
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Trần Đức Hiếu
2.Ông Đoàn Văn Hòa
- Thư ký phiên tòa:Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt- Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng.
Ngày 15 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 112/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số21/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6năm 2019 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn:Chị Hồ Thị Th, sinh năm: 1968. Địa chỉ: Tổ 32, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
2.Bị đơn:Anh Bùi Thanh H, sinh năm: 1968. Địa chỉ: Tổ 11, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 04 năm 2019 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn Chị Hồ Thị Thtrình bày:
Chị kết hôn với Anh Bùi Thanh H vào năm 1989, có đăng ký kết hôn tại UBNDxã Hòa Xuân, huyện Hòa Vang tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng (cũ), nay là phường Hòa Xuân,quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵngđã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số2014ngày 24/01/1989, hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại đội 11, xã Hòa Xuân, huyện Hòa Vang tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng nay là tổ 11,phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến cuối năm 1990 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên đến đầu năm 1991 anhBùi Thanh Hbỏ nhà đi và từ đó đến nay không liên lạc gì với gia đình. Chị và gia đình đã nhiều lần hỏi thăm và tìm kiếm nhưng không ai biết, kể cả hỏi thăm đến gia đình Anh Bùi Thanh H nhưng cũng không biết Anh Bùi Thanh H đang ở đâu và đến nay anh Hvẫn không về. Nay chị xác định chị không còn thương yêu Anh Bùi Thanh H nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chịđược ly hôn Anh Bùi Thanh H.
- Về con chung: Chị Hồ Thị Th xác nhận có 01 con chung tên Bùi Thanh Đ, sinh ngày: 04/5/1990 đã trưởng thành và tự chăm lo bản thân nên chị không yêu cầu gì.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hồ Thị Th xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung.
Tòa án đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với Anh Bùi Thanh H nhưng anh Hvẫn không có mặt tại Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Bùi Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt Anh Bùi Thanh H.
Về Nội dung tranh chấp:
Về quan hệ hôn nhân:
Quan hệ hôn nhân giữa Chị Hồ Thị Th và Anh Bùi Thanh Hđược xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện vào năm 1989,có đăng ký kết hôn tại UBNDxã Hòa Xuân, huyện Hòa Vang tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng (cũ), nay là phường Hòa Xuân,quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵngvà đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 2014 ngày 24 tháng 01 năm 1989.Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm Chị Hồ Thị Th khai rằng: Chị không còn tình cảm, không còn thương yêu gì đối với Anh Bùi Thanh H nữa vì từ lúc Anh Bùi Thanh H bỏ đi từ năm 1991 đến nay Anh Bùi Thanh H không liên lạc gì với chị và từ đó đến nay chị một mình vất vả nuôi con khôn lớn nên tình cảm giữa chị với anh Hkhông còn. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn Anh Bùi Thanh H
Căn cứ xác nhận ngày 03 tháng 5 năm 2019 đã được chính quyền địa phương xác nhận có nội dung: Ông Bùi Thanh Hđã bỏ đi từ năm 1991 đến nay chưa về. Hiện nay Anh Bùi Thanh H không sống chung với Chị Hồ Thị Th tại Tổ 32, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
HĐXX xét thấy: Trong quá trình chung sống, cuộc sống gia đình Chị Hồ Thị Th và Anh Bùi Thanh Hkhông hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đầu năm 1991 Anh Bùi Thanh H bỏ nhà đi và từ đó đến nay không liên lạc gì với gia đình.
Chị Hồ Thị Th và gia đình đã nhiều lần hỏi thăm và tìm kiếm nhưng không ai biết Anh Bùi Thanh H ở đâu. Trong quá trình thụ lý, giải quyết yêu cầu ly hôn của Chị Hồ Thị Th, Tòa án đã đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng yêu cầu Anh Bùi Thanh H về giải quyết việc ly hôn với Chị Hồ Thị Th nhưng Anh Bùi Thanh H vẫn không về và không có liên lạc gì. Việc Anh Bùi Thanh H bỏ đi khỏi địa phương và cắt đứt mọi thông tin liên lạc với Chị Hồ Thị Th điều đó chứng tỏ hai bên đã không còn tình cảm gì với nhau, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống được. Xét thấy cuộc hôn nhân của Chị Hồ Thị Th Anh Bùi Thanh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng hàn gắn không còn nên cần áp dụng Điều 56 luật HNGĐ năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Hồ Thị Th, xử cho Chị Hồ Thị Th được ly hôn với Anh Bùi Thanh H.
Về con chung: Chị Hồ Thị Th xác nhận có 01 con chung tên Bùi Thanh Đ, sinh ngày: 04/5/1990 đã trưởng thành và tự nuôi sống bản thân nên HĐXX không đề cập đến.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hồ Thị Th xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên HĐXX không đề cập đến.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm Chị Hồ Thị Thphải chịu là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; các điều 147,227,228, 266,267,269,271,273của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Hồ Thị Th đối với Anh Bùi Thanh H về việc “tranh chấp ly hôn”.
1.Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa Chị Hồ Thị Th và Anh Bùi Thanh H
2. Về con chung: Có 01 con chung tên Bùi Thanh Đ, sinh ngày: 04/5/1990 đã trưởng thành nên HĐXX không đề cập đến.
3.Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hồ Thị Th xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên HĐXX không đề cập đến.
4.Về án phí:Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm Chị Hồ Thị Th phải chịu là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Chị Hồ Thị Th đã nộp theo biên lai thu số5705 ngày 22/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
5. Báo cho Chị Hồ Thị Th biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Riêng Anh Bùi Thanh Hvắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Toà án niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyếtđịnh được thi hành theo quy định tạiĐiều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại cácđiều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKS ND quận Cẩm Lệ; - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ; - UBND phường Hòa Xuân, Cẩm Lệ, Đà Nẵng; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA [ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Trƣơng Thị Hai |