- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Trung P - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Trung P phạm tội “Gá bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 183/2018/HSST Ngày 17-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Ngọc Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn
2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Vân, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 185/2018/HSST ngày 09 tháng 7 năm 2018 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 186/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Phan Trung P (tên gọi khác: T), sinh năm 1981 tại tỉnh T; thƣờng trú: Khóm 10, Phƣờng 7, thành phố V, tỉnh T; chỗ ở: Ấp 5, xã H, huyện T, tỉnh R; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 4/12; con ông Phan Trung K, sinh năm 1956 và bà Lâm Thị H, sinh năm 1956; vợ tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; bị cáo có 01 ngƣời con sinh năm 2004; có 01 anh ruột, sinh năm 1979; tiền án, tiền sự: Không; ngày 15/3/2018 đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/3/2015 tên T (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) rủ Bùi Văn H đến khu đất trống trong nghĩa trang Triều Châu thuộc khu phố T, phƣờng H, thị xã D, tỉnh B để đá gà thắng thua bằng tiền. Sau đó H về nhà trọ tại phƣờng C, thị xã A, tỉnh B lấy 01 con gà đá rồi rủ Trần Văn L và Nguyễn Vũ Ph cùng đi đá gà thắng thua bằng tiền, tất cả đi đến nghĩa trang Triều Châu. Tại đây Phan Trung P tổ chức cho nhóm của Bùi Văn H đá gà ăn thua bằng tiền với nhóm của Lê Minh Q. P đem cân ra để hai bên cân gà, sau khi cân gà xong thì Q và H thỏa thuận cá cƣợc đá gà với số tiền mỗi bên là 3.000.000 đồng. Trong đó nhóm của Lê Minh Q gồm: Lê Minh Q chủ gà bỏ ra 600.000 đồng; Trần Việt K hùn 500.000 đồng; Đỗ Ngọc S hùn 200.000 đồng; Nguyễn Văn G hùn 100.000 đồng; Phạm Văn T hùn 100.000 đồng; Bùi Tuấn N hùn 100.000 đồng; Nguyễn Hoàng K hùn 100.000 đồng và 02 thanh niên (chƣa rõ lai lịch) hùn 1.300.000 đồng. Nhóm của Bùi Văn H gồm có: Bùi Văn H chủ gà bỏ ra 500.000 đồng; Trần Văn L hùn 500.000 đồng; Nguyễn Vũ Ph hùn 500.000 đồng và 03 ngƣời thanh niên (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) hùn 1.500.000 đồng. Tổng số tiền dùng đánh bạc là 6.000.000 đồng. Riêng đối với Trần Trung L cung cấp cựa gà cho các bên thuê để đá gà, mỗi cặp cựa L lấy 20.000 đồng.
Sau khi thỏa thuận xong, Phan Trung P đƣa băng keo để hai bên băng cựa gà. Sau khi băng cựa gà xong thì G và L ôm gà, Phan Trung P làm trọng tài cầm miếng mica chắn giữa G và L hô 1, 2, 3 rồi rút tấm mica ra thì G và L thả gà ra đá với nhau. Kết quả gà bên nhóm của H thua nên H thu tiền đƣa cho P 3.000.000 đồng, P lấy 200.000 đồng tiền xâu rồi đƣa cho Q 2.800.000 đồng, Q lấy 600.000 đồng rồi chia cho mọi ngƣời trong nhóm theo tỷ lệ tƣơng đƣơng số tiền đã đặt cƣợc. Khi vừa chia tiền xong thì lực lƣợng công an vào kiểm tra phát hiện bắt giữ Lê Minh Q, Nguyễn Văn T, Đỗ Ngọc S, Nguyễn Hoàng K, Bùi Tuấn N, Trần Việt K, Nguyễn Văn G, Bùi Văn H, Nguyễn Vũ Ph, Trần Văn L và Trần Trung L. Riêng Phan Trung P và 06 thanh niên chƣa rã nhân thân, lai lịch bỏ chạy thoát.
Tang vật tạm giữ: 01 cân đồng hồ loại 05kg; 06 cuộn băng keo; 01 cặp cựa bằng kim loại; 01 tấm chắn bằng mica kích thƣớc 30/40cm; 2.600.000 đồng; 02 con gà và 01 bộ cựa bằng sắt.
Ngày 08/6/2015, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã D khởi tố bị can Phan Trung P và ra quyết định truy nã.
Ngày 14/3/2018 Phan Trung P đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã D đầu thú. Cơ quan công an phục hồi điều tra và cho bị cáo tại ngoại điều tra cho đến nay.
Đối với Lê Minh Q, Nguyễn Văn T, Đỗ Ngọc S, Nguyễn Hoàng K, Bùi Tuấn N, Trần Việt K, Nguyễn Văn G, Bùi Văn H, Nguyễn Vũ Ph, Trần Văn L và Trần Trung L đã đƣợc Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh B xét xử tại bản án số 238 ngày 30/7/2015.
Đối với 06 thanh niên tham gia đá gà hiện chƣa rõ nhân thân lai lịch, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào làm rõ xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã đƣợc xử lý tại bản án hình sự sơ thẩm số 238 ngày 30/7/2015 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh B.
Tại cáo trạng số 176/CT-VKS ngày 07 tháng 6 năm 2018, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh B truy tố Phan Trung P về tội “Gá bạc” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009 xử phạt bị cáo Phan Trung P phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Trung P xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/3/2015, tại khu đất trống trong nghĩa trang Triều Châu thuộc khu phố A, phƣờng H, thị xã D, tỉnh B, Phan Trung P đã có hành vi bố trí địa điểm, cung cấp cân, băng keo, đứng ra làm trọng tài để lấy tiền xâu. Tổng số tiền các con bạc sử dụng là 6.000.000 đồng.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định thì: “Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại điều này và Điều 248 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến ba trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Tại phiên tòa, bị cáo đa khai nhâ ̣̃
n toàn bô ̣ hành vi pha ̣m tô ̣i . Lờ i khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can cùng nhƣ̃ng tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo tổ chức đá gà làm trọng tài để lấy tiền xâu đã đủ yếu tố cấu thành tội gá bạc quy định tại khoản 1 Điều Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009. Cáo trạng số 176/CT - VKS ngày 07 tháng 6 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã D và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009, Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.
Về nhân thân: Bị cáo P có nhân thân tốt, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bản thân bị cáo mới học đến lớp 4 nên khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế, trong thời gian tại ngoại luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nƣớc và địa phƣơng.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ sức răn đe, giáo dục và cũng không làm ảnh hƣởng đến tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn thị xã D, tỉnh B.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã đƣợc xử lý tại bản án hình sự sơ thẩm số 238 ngày 30/7/2015 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh B nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Mức hình phạt do đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo P là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phan Trung P phạm tội “Gá bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Xử phạt bị cáo Phan Trung P 10.000.000 đồng (mƣời triệu đồng).
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã đƣợc xử lý tại bản án hình sự sơ thẩm số 238 ngày 30/7/2015 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh B.
2. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Phan Trung P phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cá o trong ha ̣n 15 (mƣời lăm) ngày, kể tƣ̀ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã D; - Công an thị xã D; - Chi cục THADS thị xã D; - TAND tỉnh B; - Sở Tƣ pháp tỉnh B; - Bị cáo; - UBND phƣờng 7, thành phố V, Tỉnh T; - Lƣu: VT, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lại Thị Ngọc Liên |