- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn C phạm tội cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử ph t bị cáo Lê Văn C (tên gọi khác: Út C) 05 (năm) năm tù về tội “Cướp gi t tài sản”. Thời h n tù t nh từ ngày 11/01/2018.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 183/2018/HS-ST Ngày 12 - 10 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Dương Cao Đức
Bà Hồ Thị Xuân Lan
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Khuê – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 10 năm 2018, t i tr s T a án nhân dân Qu n 8, Thành phố Hồ Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số 159/2018/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 197/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Lê Văn C (tên gọi khác: Út C); sinh ngày 08/6/1972 t i S; nơi cư trú: D9/35 khu phố A, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Ch Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn: Không biết chữ); dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N (chết) và bà Nguyễn Thị N (sinh năm: 1940); vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không.
Tiền án:
- Ngày 29/6/1991, T a án nhân dân Qu n 4, Thành phố Hồ Ch Minh xử ph t 12 tháng tù về tội “Cướp gi t tài sản của công dân” (Bản án số: 79/HSST). Thi hành xong hình ph t tù ngày 08/3/1992. Phần án ph hình sự thi hành xong ngày 29/8/2006.
- Ngày 26/12/1994, T a án nhân dân Thành phố Hồ Ch Minh xử ph t 10 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân” (Bản án số 1594/HSST), bị cáo kháng cáo. Ngày 19/5/1995, T a phúc thẩm T a án nhân dân tối cao t i Thành phố Hồ Ch Minh giải quyết y án sơ thẩm (Bản án số: 462/HSPT). Chấp hành xong hình ph t tù ngày 10/11/2001.
- Ngày 20/7/2005, T a án nhân dân Thành phố Hồ Ch Minh xử ph t 08 năm tù về tội “Cướp tài sản” (Bản án số: 1057/2005/HSST), bị cáo kháng cáo. Ngày 20/9/2005, Tòa phúc thẩm T a án nhân dân tối cao t i Thành phố Hồ Ch Minh ra Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm do bị cáo rút yêu cầu kháng cáo. Chấp hành xong hình ph t tù ngày 30/4/2010.
- Ngày 10/8/2011, T a án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Ch Minh xử ph t 08 năm tù về tội “Cướp gi t tài sản” (Bản án số 214/2011/HSST), bị cáo kháng cáo. Ngày 21/11/2011, T a án nhân dân Thành phố Hồ Ch Minh xét xử phúc thẩm, xử ph t 06 năm tù về tội “Cướp gi t tài sản” (Bản án số 735/2011/HSPT). Chấp hành xong hình ph t tù ngày 15/10/2016.
Nhân thân:
- Ngày 15/01/1990, T a án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Ch Minh xử ph t 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương t ch” (Bản án số: 01/HSST). Hồ sơ thi hành án ph t tù không c n lưu trữ; phần án ph hình sự thi hành xong ngày 11/9/1991 (thời điểm ph m tội bị cáo dưới 18 tuổi).
- Ủy ban nhân dân Qu n 4, Thành phố Hồ Ch Minh ra quyết định cưỡng bức lao động thời gian 24 tháng, theo Quyết định số 72 ngày 21/3/1992 (Hồ sơ không c n lưu giữ).
- Ngày 04/8/2010, Công an xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Ch Minh ra quyết định xử ph t hành ch nh về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị bắt, t m giam từ ngày 11/01/2018 đến nay (có mặt).
Bị hại: Chị Quách Ngọc H, sinh năm 1998; nơi cư trú: 57/30/1 B, Phường S, Qu n B, Thành phố Hồ Ch Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên t a, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ, ngày 10/01/2018, Lê Văn C đang đi bộ t i khu T, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Ch Minh, thì gặp một thanh niên (không rõ lai lịch) điều khiển xe mô tô (không rõ biển số), C đến làm quen và rủ người thanh niên này đi cướp gi t tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, người thanh niên đồng ý và ch C ph a sau. Khoảng 00 giờ 05 phút, ngày 11/01/2018, khi người thanh niên điều khiển xe ch C đến ngã ba đường D và đường T, Phường S, Qu n B, Thành phố Hồ Ch Minh, thì phát hiện chị Quách Ngọc H điều khiển xe gắn máy ph a trước cùng chiều, trên người có đeo 01 túi xách bằng da màu xanh hiệu Juno, bên trong có số tiền 23.000 đồng, người thanh niên chỉ cho C thấy đồng thời cho xe áp sát vào xe chị H để C dùng tay trái gi t túi xách nhưng gi t không đứt mà làm cho C, chị H té ngã. Cùng lúc này, trinh sát hình sự Công an Thành phố Hồ Ch Minh đi tuần tra phát hiện, hỗ trợ chị H bắt giữ C cùng v t chứng giao Công an Phường 5, Qu n 8 l p biên bản bắt người ph m tội quả tang, t m giữ của C 01 điện tho i di động hiệu Mobiistar B210. Riêng người thanh niên ch C đã kịp tăng ga xe tẩu thoát. Sau đó, hồ sơ được chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Qu n 8 điều tra, làm rõ.
Quá trình điều tra, Lê Văn C đã khai nh n t a bộ hành vi như đã nêu trên.
Theo bản Kết lu n định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố t ng hình sự ngày 09/3/2018 kết lu n: 01 túi xách xách bằng da màu xanh hiệu Juno có giá trị là 50.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị h i chị Quách Ngọc H đã được Công an trao trả chiếc túi xách và số tiền 23.000 đồng, chị H không có yêu cầu gì thêm.
V t chứng v án:
- 01 túi xách xách bằng da màu xanh hiệu Juno và số tiền 23.000 đồng.
- 01 điện tho i di động hiệu Mobiistar B210, số Imei: 352210021280887.
T i bản Cáo tr ng số 163/CT-VKS ngày 30/7/2018 Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8, Thành phố Hồ Ch Minh truy tố bị cáo Lê Văn C về tội “Cướp gi t tài sản”, theo các điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ lu t Hình sự.
T i phiên t a, đ i diện Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 giữ quyền công tố lu n tội và tranh lu n: T i phiên t a bị cáo Lê Văn C khai nh n hành vi phù hợp với lời khai t i cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, bị h i, xác định khoảng 00 giờ 05 phút, ngày 11/01/2018, t i ngã ba đường D và đường T, Phường S, Qu n B, Thành phố Hồ Ch Minh, Lê Văn C và người thanh niên (không rõ lai lịch) sử d ng xe gắn máy làm phương tiện đi cướp gi t 01 túi xách bằng da, bên trong có số tiền 23.000 đồng của chị Quách Ngọc H, rồi nhanh chóng tẩu thoát. Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Văn C về tội “Cướp gi t tài sản” theo các điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ lu t Hình sự. Đề nghị xử ph t bị cáo Lê Văn C từ 05 năm đến 06 năm tù; Về trách nhiệm dân sự: Bị h i không có yêu cầu bị cáo bồi thường, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về xử lý v t chứng: 01 túi xách bằng da màu xanh hiệu Juno và số tiền 23.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả l i cho chị H; 01 điện tho i hiệu Mobiistar B210, t m giữ của bị cáo C, không liên quan đến hành vi ph m tội nên đề nghị trả l i bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên t a, Hội đồng xét xử nh n định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Qu n 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ lu t tố t ng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Khoảng 00 giờ 05 phút, ngày 11/01/2018, t i ngã ba đường D và đường T, Phường S, Qu n B, Thành phố Hồ Ch Minh, Lê Văn C và người thanh niên (không rõ lai lịch) sử d ng xe gắn máy làm phương tiện thực hiện hành vi cướp gi t 01 túi xách bằng da màu xanh hiệu Juno, bên trong có số tiền 23.000 đồng của chị Quách Ngọc H, rồi nhanh chóng tẩu thoát, tổng giá trị tài sản bị chiếm đo t là 73.000 đồng. Khi ph m tội, bị cáo có sử d ng xe gắn máy phân khối lớn làm phương tiện ph m tội là thuộc trường hợp dùng thủ đo n nguy hiểm. Trước đó, bị cáo đã bị kết án về tội ph m rất nghiêm trọng do cố ý với tình tiết tăng nặng là tái ph m nguy hiểm, chưa được xóa án t ch, nay l i ph m tội rất nghiêm trọng do cố ý, do đó lần ph m tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái ph m nguy hiểm. Như v y, Hội đồng xét xử có cơ s xác định hành vi của bị cáo đã ph m vào tội “Cướp gi t tài sản”, tội ph m và hình ph t được quy định t i các điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ lu t Hình sự.
Bị cáo có nhân thân xấu, đã 05 lần bị kết án về các tội “Cố ý gây thương t ch”; “Cướp gi t tài sản”, “Cướp tài sản”, do đó khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét để có mức hình ph t phù hợp với nhân thân bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra, truy tố và t i phiên t a bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả người bị h i, gây thiệt h i không lớn, do đó Hội đồng xét xử áp d ng các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự để giảm nhẹ một phần hình ph t cho bị cáo.
Về hình ph t bổ sung, theo quy định t i khoản 5 Điều 171 Bộ lu t Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo t i phiên t a đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nh p, vì v y, Hội đồng xét xử không áp d ng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo.
Về xử lý v t chứng:
- 01 túi xách xách bằng da màu xanh hiệu Juno và số tiền 23.000 đồng, đã được thu hồi. Ngày 25/01/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã l p biên bản trả cho bị h i các tài sản trên là phù hợp quy định pháp lu t.
- 01 điện tho i di động hiệu Mobiistar B210, số Imei: 352210021280887, t m giữ của bị cáo C, bị cáo sử d ng vào việc liên l c cá nhân, xét không liên quan đến hành vi ph m tội, căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng Hình sự trả l i bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị h i là chị Quách Ngọc H đã nh n l i tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người thanh niên dùng xe mô tô ch bị cáo C thực hiện hành vi cướp gi t đã tẩu thoát, do không xác định được lai lịch nên Cơ quan điều tra không có cơ s xử lý trong v án này.
Về án ph hình sự: Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định pháp lu t.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các điểm d, i khoản 2 Điều 171; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự.
Xử ph t bị cáo Lê Văn C (tên gọi khác: Út C) 05 (năm) năm tù về tội “Cướp gi t tài sản”. Thời h n tù t nh từ ngày 11/01/2018.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ lu t Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự.
Trả l i cho bị cáo Lê Văn C (tên gọi khác: Út C) 01 điện tho i di động hiệu Mobiistar B210, số Imei: 352210021280887.
(Theo Phiếu nh p kho v t chứng số 150/PNK ngày 06/7/2018)
- Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.
Buộc bị cáo Lê Văn C (tên gọi khác: Út C) nộp 200.000 đồng án ph hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị h i vắng mặt t i phiên t a có quyền kháng cáo trong thời h n 15 ngày kể từ ngày được tống đ t hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo (1); - VKS ND Qu n 8 (2); - VKS ND TP. HCM (1); - CQ ĐT CA Qu n 8 (1); - CQ THA HS CA Qu n 8 (1); - Nhà t m giữ CA Qu n 8 (1); - Chi c c THA DS Qu n 8 (1); - Người tham gia tố t ng khác (1); - TA ND TP.HCM (1); - S Tư pháp TP.HCM (1); - PC53 (1); - Lưu: HS, VT (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thanh |