- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ theo hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần C: Buộc chị Cao Lương Tuyết N và bà bà Lương Tuyết M phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần C số tiền tính đến ngày 23/11/2018, tiền vốn 219.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 183/2018/DS-ST Ngày 23 – 11 – 2018 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Thanh Liêm
Ông Nguyễn Hoàng Dân
- Thư ký phiên toà: Ông Trương Thanh Quốc – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Em – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 185/2017/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 753/2018/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2018 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần C
Địa chỉ: Số 108, đường T, quận H, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Ngươi đại diện theo ủy quyền: Bà Thái Thị Tường V, chức vụ phó phòng bán lẻ, theo văn bản ủy quyền ngày 26/6/2017 (có mặt).
Bị đơn:
1/Chị Cao Lương Tuyết N, sinh năm: 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số C, đường L, khóm B, phường S, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
2/Bà Lương Tuyết M, sinh năm: 1968 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số D, ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Ngư i có quy n l i, ngh a v liên quan:
1/ Ông Lương Thanh T– sinh năm: 1939 (vắng mặt)
2/ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1939 (vắng mặt)
3/ Anh Lương Văn H, sinh năm: 1973 (vắng mặt)
4/ Chị Trương Hồng N (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số C, đường L, khóm B, phường S, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30/5/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như ý kiến bổ sung tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần C (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) trình bày:
Ngân hàng và chị Cao Lương Tuyết N có ký kết các hợp đồng tín dụng: Hợp đồng số 15.017.063/2015-HĐTD/NHCT860 ngày 14/12/2015, số tiền vay 1.200.000.000đ, lãi vay trong hạn 10,5%/năm, lãi suất quá hạn 15,75%/năm, thời hạn vay đến ngày 15/12/2020. Hợp đồng này đã quá hạn từ ngày 15/12/2017 và Hợp đồng số 16.017.013/2016-HĐTD/NHCT860 ngày 02/02/2016, số tiền vay 300.000.000đ, lãi vay trọng hạn 10,5%/năm, lãi suất quá hạn 15,75%/năm, thời hạn vay đến ngày 02/02/2021. Hợp đồng này đã quá hạn từ ngày 16/4/2018. Cả hai hợp đồng đều sử dụng vốn vay vào mục đích sửa chữa nhà trọ hộ kinh doanh cá thể.
Ngân hàng và chị Cao Lương Tuyết N với bà Lương Tuyết M có ký Hợp đồng số 16.104.386/2016-HĐTD/NHCT860 ngày 27/12/2016, số tiền vay 100.000.000đ, lãi vay trong hạn 10,5%/năm, lãi suất quá hạn 15,75%/năm, thời hạn vay đến ngày 27/12/2021. Hợp đồng này đã quá hạn từ ngày 16/4/2018 và Hợp đồng số 16.104.354/2016-HĐTD/NHCT860 ngày 09/12/2016, số tiền vay 300.000.00, lãi vay trong hạn 10,5%/năm, lãi suất quá hạn 15,75%/năm, thời hạn vay đến ngày 09/12/2021. Hợp đồng này đã quá hạn từ ngày 15/3/2018. Mục đích vay tiêu dùng để sửa chữa nhà ở số 230/13, đường L, khóm H, phường M, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Các khoản vay của chị N được ông Lương Thanh T và bà Nguyễn Thị L dùng tài sản của ông bà là quyền sử dụng đất thửa số 33 tờ bản đồ 44, diện tích 277,5m2 và quyền sở hữu nhà cấp III-B.02, diện tích sàn 520,5m2, diện tích xây dựng 150m2, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số BL188618 do UBND thành phố Cà Mau cấp cho ông Lương Thanh T và bà Nguyễn Thị L ngày 10/10/2012, để đảm bảo. Việc thế chấp thể hiện tại hợp đồng số 15.017.062/HĐBĐ ngày 14/12/2015, đã đăng ký thế chấp ngày 14/12/2015 và các phụ lục hợp đồng thế chấp số 01/15.017.062/PLHĐBĐ ngày 02/02/2016 và số 02/15.017.062/PLHĐBĐ ngày 09/12/2016.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng trên chị Cao Lương Tuyết N và bà Lương Tuyết M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng chị N và bà M vẫn không thực hiện đúng. Tính đến ngày khởi kiện 30/5/2018, chị N và bà M còn nợ ngân hàng số tiền 1.265.587.023đ, tiền vốn 1.212.251.298đ, lãi 53.335.725đ. Trong đó, dư nợ của hợp đồng Hợp đồng số 15.017.063/2015-HĐTD/NHCT860 ngày 14/12/2015 vốn và lãi là 777.744.252đ, quá hạn từ ngày 15/12/2017; Dư nợ của Hợp đồng số 16.017.013/2016-HĐTD/NHCT860 ngày 02/02/2016 vốn và lãi là 178.980.511đ, quá hạn từ ngày 16/4/2018; Dư nợ của hợp đồng số 16.104.386/2016-HĐTD/NHCT860 ngày 27/12/2016 vốn và lãi là 76.668.815đ, quá hạn từ ngày 16/4/2018; Dư nợ của số 16.104.354/2016-HĐTD/NHCT860 ngày 09/12/2016 vốn và lãi là 232.193.445đ, quá hạn từ ngày 15/3/2018.
Trong thời gian giải quyết vụ án, chị Ngân và bà Mai đã thanh toán nợ chỉ khắc phục quá hạn đối với 03 hợp đồng, hợp đồng số 15.017.063/2015-HĐTD/NHCT860 ngày 14/12/2015 vẫn còn quá hạn. Nên nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bà Mai và chị Ngân thanh toán nợ. Tính đến ngày 23/11/2018:
- Hợp đồng số 16.104.386/2016-HĐTD/NHCT860 ngày 27/12/2016 còn dư nợ số tiền 35.066.449đ, trong đó tiền vốn 34.995.000đ và lãi 71.449đ;
- Hợp đồng số 16.104.354/2016-HĐTD/NHCT860 ngày 09/12/2016, còn dư nợ số tiền 185.398.125đ, trong đó tiền vốn 185.000.000đ và lãi 398.125đ
Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc chị Cao Lương Tuyết N và bà Lương Tuyết M thanh toán cho ngân hàng số tiền của hai hợp đồng này, tính đến ngày 23/11/2018 là 220.464.574đ và tiếp tục thanh toán lãi theo thỏa thuận của hợp đồng cho đến khi thanh toán dứt nợ. Trường hợp chị Ngân và bà Mai không thanh toán hoặc không thanh toán đủ số nợ thì yêu cầu Tòa án buộc ông Lương Thanh T và bà Nguyễn Thị L giao tài sản thế chấp để phát mãi thu hồi nợ cho ngân hàng.
T i biên b n ghi l i khai ngày 24/10/2018, chị Cao Lương Tuyết Ngân và bà Lương Tuyết Mai trình bày: Chị là chủ kinh doanh nhà trọ Chúc M có đăng ký hộ kinh doanh cá thể, cá nhân chị cũng như chị cùng bà M có ký kết các hợp đồng vay vốn nói trên. Ngân hàng khởi kiện chị N và bà M thống nhất có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng. Chị N và bà M chấp nhận phát mãi tài sản thế chấp để thanh toán nợ trong trường hợp chị N và bà M không có khả năng thanh toán hoặc thanh toán không đủ theo đúng yêu cầu của ngân hàng.
Tại bản biên bản ghi ý kiến ngày 23/8/2018 và ngày 24/10/2018 ông Lương Thanh T trình bày: Đối với việc dùng tài sản của ông và bà T thế chấp để bảo đảm việc trả nợ của chị Cao Lương Tuyết N đối với ngân hàng khi thì ông xác định là ông không thế chấp, lúc thì xác định có thế chấp hay không, ông không biết. Ông không cung cấp chứng cứ gì thể hiện chữ ký tại hợp đồng thế chấp số 15.017.062/HĐBĐ ngày 14/12/2015 không phải của ông, cũng không yêu cầu giám định chữ ký. Đối với số nợ chị N, bà M vay ngân hàng, trách nhiệm thanh toán của chị N và bà M. Ông không đồng ý phát mãi tài sản thế chấp để trả nợ cho ngân hàng. Đối với việc Tòa án triệu tập bà L, các lần triệu tập ông đều thông báo thời gian và nội dung triệu tập cũng như nội dung các văn bản tố tụng khác mà người nhà đã nhận thay bà L, ông và gia đình đều đã thông báo nhưng do bà Lộc ở thành phố Hồ Chí Minh không về nên vắng mặt.
Tại biên ngày 24/10/2018, chị N trình bày: Hiện nay chị đang sống tại nhà C, đường L, khóm B, phường S, thành phố C nhà này của ông T bà L. Đối với trách nhiệm trả nợ và việc phát mãi chị không có ý kiến. Trường hợp phải giao nhà để phát mãi thanh toán nợ cho ngân hàng chị không yêu cầu gì trong vụ án này. Các văn bản tố tụng chị đã nhận thay bà L, chị đều đã thông báo nội dung của văn bản tố tụng, chị đã nhận thay cho bà L biết.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 13/11/2018 và tại phiên tòa, anh Lương Văn H trình bày: Hiện nay anh đang sống tại nhà số C, đường L, khóm B, phường S, thành phố C nhà này của ông T bà L. Đối với trách nhiệm trả nợ và việc phát mãi anh không có ý kiến. Trường hợp phải giao nhà để phát mãi tài sản thanh toán nợ theo yêu cầu của ngân hàng anh không yêu cầu gì trong vụ án này. Bà Nguyễn Thị L là mẹ anh đã biết Tòa án đang giải quyết và biết thời gian địa điểm triệu tập nhưng bà không về tham gia tố tụng vì lý do sức khỏe.
Tại phiên tòa Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử, chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ngyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Ngân hàng thương mại cổ phần C (sau đây gọi tắt là ngân hàng) khởi kiện chị Cao Lương Tuyết N cùng bà Lương Tuyết M đối với 04 Hợp đồng tín dụng số 16.104.386/2016-HĐTD/NHCT860 ngày 27/12/2016, số 16.104.354/2016-HĐTD/NHCT860 ngày 09/12/2016, số 15.017.063/2015-HĐTD/NHCT860 ngày 14/12/2015 và số 16.017.013/2016-HĐTD/NHCT860 ngày 02/02/2016. Hai hợp đồng số 15.017.063/2015-HĐTD/NHCT860 ngày 14/12/2015 và số 16.017.013/2016-HĐTD/NHCT860 ngày 02/02/2016, được ký kết với mục đích sử dụng vốn vay để sửa chữa nhà trọ phục vụ cho hoạt động kinh doanh, sinh lợi nhuận của chị N là chủ hộ kinh doanh cá thể, nên yêu cầu khởi kiện đối với hai hợp đồng này là tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự. Hai hợp đồng tín dụng số 16.104.386/2016-HĐTD/NHCT860 ngày 27/12/2016 và số 16.104.354/2016-HĐTD/NHCT860 ngày 09/12/2016 giữa Ngân hàng với chị Cao Lương Tuyết N, bà Lương Tuyết M, mục đích sử dụng vay vốn để sửa chữa nhà ở phục vụ sinh hoạt cá nhân, nên tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản tại Điều 463 của Bộ luật dân sự, đây là tranh chấp dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã thụ lý hai yêu cầu khác nhau về hai mối quan hệ tranh chấp khác nhau cùng một vụ án, nên Tòa án đã căn cứ khoản 2 Điều 42 Bộ luật dân sự tách thành hai vụ án khác nhau theo quyết định số 03/2018/QĐST-DS ngày 24/10/2018. Trong vụ án này, chỉ xem xét giải quyết tranh chấp đối với hai hợp đồng tín dụng số 16.104.386/2016-HĐTD/NHCT860 ngày 27/12/2016 và số 16.104.354/2016-HĐTD/NHCT860 ngày 09/12/2016 giữa Ngân hàng với chị Cao Lương Tuyết N, bà Lương Tuyết M.
Đối với chị Cao Lương Tuyết N, bà Lương Tuyết M, ông Lương Thanh T, bà Nguyễn Thị L, anh Lương Văn H và chị Trương Hồng N, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ chị Cao Lương Tuyết N, bà Lương Tuyết M, ông Lương Thanh T, bà Nguyễn Thị L để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và phiên họp hòa giải đến lần thứ hai nhưng chị Cao Lương Tuyết N, bà Lương Tuyết M, ông Lương Thanh T, bà Nguyễn Thị L vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án. Anh Lương Văn H và chị Trương Hồng N có yêu cầu không hòa giải vụ án nên không tiến hành hòa giải vụ án là đúng quy định tại Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã triệp tập hợp lệ chị Cao Lương Tuyết N, bà Lương Tuyết M, ông Lương Thanh T, bà Nguyễn Thị L, anh Lương Văn H và chị Trương Hồng N đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử nhưng chị Cao Lương Tuyết N, bà Lương Tuyết M, ông Lương Thanh T, bà Nguyễn Thị L, anh Lương Văn H và chị Trương Hồng N vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Cao Lương Tuyết N, bà Lương Tuyết M, ông Lương Thanh T, bà Nguyễn Thị L, anh Lương Văn H và chị Trương Hồng N là đúng quy định tại khoản 2 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với số tiền N hàng yêu cầu chị Cao Lương Tuyết N, bà Lương Tuyết M có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng theo hai hợp đồng nói trên, số tiền tính đến ngày 23/11/2018 bằng 220.464.574đ trong đó, tiền vốn là 219.995.000đ, nợ lãi 469.574đ. Theo hợp đồng Hợp đồng số 16.104.386/2016-HĐTD/NHCT860 ngày 27/12/2016, số tiền vay 100.000.000đ, thời hạn vay đến ngày 27/12/2021, tính đến ngày 23/11/2018, số tiền vốn còn nợ nợ 34.995.000đ và lãi phát sinh từ ngày 22/11/2018 đến ngày 23/11/2018 là 71.449đ. Hợp đồng số 16.104.354/2016-HĐTD/NHCT860 ngày 09/12/2016, số tiền vay 300.000.000đ, thời hạn vay đến ngày 09/12/2021. Tính đến ngày 23/11/2018, số tiền nợ vốn là 185.000.000đ, lãi phát sinh từ ngày 22/11/2018 đến 23/11/2018 là 398.125đ. Các khoản yêu cầu đều phù hợp với mức lãi vay được thỏa thuận trong hợp đồng. Hợp đồng được ký kết đúng thẩm quyền, nội dung thỏa thuận, mức lãi áp dụng không trái quy định của pháp luật. Mặc dù chưa hết thời hạn thực hiện hợp đồng, nhưng bên vay đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo kỳ trả nợ, là đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng theo quy định của Điều 282 Bộ luật dân sự, nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị Nvà bà M phải thanh toán toàn bộ khoản nợ vốn và lãi phát sinh từ hai hợp đồng này là có căn cứ. Chị N, bà M thống nhất có trách nhiệm thanh toán nợ cho ngân hàng nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ngân hàng buộc chị N và bà M trả số tiền 220.464.574đ trong đó, tiền vốn là 219.995.000đ, nợ lãi 469.574đ. Chị N và bà M phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng.
Đối với yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Ông T cho rằng ông có ký hợp đồng thế chấp hay không ông không nhớ nhưng ông không có chứng cứ nào thể hiện việc ông không đồng ý thế chấp tài sản đảm bảo nghĩa vụ thanh toán nợ, ông T cũng không yêu cầu giám định chữ ký của ông tại hợp đồng và phục lục hợp đồng thế chấp (bl 97) cũng không có chứng cứ thể hiện chữ ký tại hợp đồng thế chấp không phải của ông. Đối với bà L được Tòa án tống đạt hợp lệ thống báo thụ lý nội dung vụ án và triệu tập bà L tham gia tố tụng, qua lời trình bày của những người nhận thay văn bản tố tụng cho bà L thể hiện bà L biết yêu cầu của ngân hàng liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của bà nhưng bà L không có ý kiến gì về vụ án cũng như về hợp đồng thế chấp tài sản. Căn cứ vào hợp đồng số 15.017.062/HĐBĐ ngày 14/12/2015, đã đăng ký thế chấp ngày 14/12/2015 và các phụ lục hợp đồng thế chấp số 01/15.017.062/PLHĐBĐ ngày 02/02/2016 và số 02/15.017.062/PLHĐBĐ ngày 09/12/2016, thể hiện ông Lương Thanh T và bà Nguyễn Thị L đã dùng tài sản là quyền sử dụng đất thửa số 33 tờ bản đồ 44, diện tích 277,5m2 và quyền sở hữu nhà cấp III-B.02, diện tích sàn 520,5m2, diện tích xây dựng 150m2, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất tọa lạc tại số C, đường L, khóm B, phường S, thành phố C, tỉnh Cà Mau, theo giấy chứng nhận số BL188618 do UBND thành phố Cà Mau cấp ngày 10/10/2012 để thế chấp bảo đảm các khoản vay của chị N tại ngân hàng.
Hợp đồng thế chấp đã được ký kết đúng thẩm quyền, hình thức và nội dung thực hiện đúng quy định tại các Điều 292, 293, 295, 296 và đã được đăng ký thế chấp ngày 14/12/2015 đúng quy định tại các Điều 298 nên hợp đồng thế chấp có giá trị thực hiện. Trong trường hợp chị Ngân không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ trên thì ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý phát mãi tài sản thế chấp thỏa thuận tại hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng là đúng quy định tại các Điều 299, 301, 303, 323 nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu này. Đối với chị N và anh H đang sống trong căn nhà C, đường L, khóm B, phường S, thành phố C, tỉnh Cà Mau, anh chị không có ý kiền và không yêu cầu gì đối với yêu cầu phát mãi tài sản của Ngân hàng nên không xem xét.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà. Án phí án dân sự sơ thẩm có giá ngạch chị N và bà M phải chịu theo quy định. Ngân hàng không phải nộp án phí là đúng quy định tại
Vì các l trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 463, 466, 467, 292, 295, 296, 298, 299, 301, 302, 303, 323 điểm b, khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự; Các Điều 26, 147, 207, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần C: Buộc chị Cao Lương Tuyết N và bà bà Lương Tuyết M phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần C số tiền tính đến ngày 23/11/2018, tiền vốn 219.995.000đ, tiền lãi 469.574đ, tổng cộng 220.464.574đ (Hai trăm hai mươi tri u b n trăm b n mươi sáu ngàn năm trăm b y mươi b n đ ng) và tiếp tục phải trả khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đến khi trả dứt nợ.
Ngân hàng thương mại cổ phần C phải trả cho ông Lương Thanh T và bà Nguyễn Thị L, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất số số BL188618 do UBND thành phố Cà Mau cấp ngày 10/10/2012, khi chị Cao Lương Tuyết N thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần C.
Buộc ông Lương Thanh T, bà Nguyễn Thị L, anh Lương Văn H và chị Trương Hồng N phải giao tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa số 33 tờ bản đồ 44, diện tích 277,5m2 và quyền sở hữu nhà cấp III-B.02, diện tích sàn 520,5m2, diện tích xây dựng 150m2, tọa lạc tại số C, đường L, khóm B, phường S, thành phố C, tỉnh Cà Mau, theo giấy chứng nhận số BL188618 do UBND thành phố Cà Mau cấp cho ông Lương Thanh T và bà Nguyễn Thị L ngày 10/10/2012, để phát mãi thu hồi nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần C trong trường hợp chị Cao Lương Tuyết N không thanh toán nợ hoặc không thanh toán đủ số nợ tại Ngân hàng thương mại cổ phần C.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bằng 11.023.000đ (Mư i m t tri u không trăm hai mươi ba ngàn đ ng) chị Cao Lương Tuyết N và bà bà Lương Tuyết M phải nộp (chưa n p). Ngân hàng thương mại cổ phần C không phải nộp án phí, ngày 12/6/2018 đã nộp tiền tạm ứng án phí 24.984.000đ (Hai mươi b n tri u chín trăm tám mươi b n ngàn đ ng), tại biên lai số 0000903, Ngân hàng thương mại cổ phần C được nhận lại toàn bộ.
Trư ng h p b n án đư c thi hành theo quy định t i Đi u 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngư i đư c thi hành án dân sự, ngư i ph i thi hành án dân sự có quy n tho thuận thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các đi u 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hi u thi hành án đư c thực hi n theo quy định t i Đi u 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TP.Cà Mau; - Lưu hồ sơ vụ án. | (đã ký) Phan Thi Thu |